THƠ Sinh viên ĐH Quy Nhơn

By Gia đình Áo trắng

 

* TRẦN THỊ MINH THƯ

( Văn K.32 - ĐH Quy Nhơn )

ĐÊM ĐÔNG


Sao thưa nhấp nháy soi đường

Màn đêm rụng ánh vô thường trên tay

Rừng lặng ngóng lá vàng bay

Sương rơi rả rích đêm ngày gọi đông

Khốc khan tiếng vượn xa trông

Trời uơm giá buốt ngại ngùng bước đi

Đất buồn vắng bóng ai về

Vườn bông lặng lẽ vườn chè lặng câm

Chạnh lòng người lính xa xăm

Màn thưa chỉ gió lén thăm hỏi mình

Trái tim gõ nốt nhạc tình

Đêm đông gieo nhớ... cóng bình minh tôi!

T.T.M.T



* LÊ THỊ ÁNH TUYẾT

( TH Văn K.32 - ĐH Quy Nhơn )

TÂM SỰ


Đông đến rồi lạnh lắm ngoại ơi!

Mùa mưa lũ sông dâng cao sóng dựng

Gió bóc mái tôn nước trong nhà lênh láng

Lòng ngoại lo buồn từng giọt nhớ rơi rơi!


Gió Quy Nhơn mùa này se sắt

Thổi buốt quê mình nơi ngoại gian nan

Con tạ lỗi không về quê thăm ngoại

Cùng bà con chung sống giữa mênh mang...


Ở nơi xa con cầu mong cho ngoại

Bao nghĩa tình làm ấm áp những mùa đông

Mong mai nắng lên nhà mình hết dột

Để ngoại không buồn thao thức nỗi long đong...

L.T.A.T


 

* VI ÁNH NGỌC

( CLB Văn nghệ Trẻ- ĐH Quy Nhơn )

Hương mạ

               ( Tặng Nguyên Lễ )


Hương mạ non

Thơm màu nắng mới

Đồng quê ta thẳng cánh cò bay

Dòng sông chảy một màu xanh thẳm


Mạ xuân mơn mởn

Ríu rít đôi chim chuyền cành sà bên dòng nước

Con trâu gặm cỏ yên bình

Trời cũng đang tuổi xuân xanh


Non tơ gốc mạ

Ngày sau cho lúa trĩu hạt

Ba má gặt về

Hạt gạo thơm lành

Em ngồi nhóm bếp nấu cơm

Hương bay bát ngát ngọn rơm đồng làng...

V.A.N



* BÙI THỊ THƯƠNG
( SP Văn K.33 - ĐH Quy Nhơn )

Quang gánh buồn tênh


Bên mái hiên bóng mẹ rơi đầy

Xào xạc hàng tre con cò bay lả

Tiếng ai hò xao xuyến gió heo may

Quang gánh nằm buồn tênh ngóng nắng


Tóc mẹ bạc trắng màu mưa trên áo

Đôi vai gầy gánh nặng cuộc đời con

Hạt thời gian vương đầy trong mắt mẹ

Bước liêu xiêu vào sương khói chon von


Rồi một mai vắng bóng mẹ bên thềm

Con cò trắng buồn thiu không bay nữa

Chỉ câu hát vẫn đong đầy kí ức

Quang gánh buồn nằm nhớ dáng mẹ xưa...

B.T.T

More...

Cuộc thi THƠ của CLB "Sáng tác trẻ"

By Gia đình Áo trắng

 

CUỘC THI THƠ - CLB SÁNG TÁC TRẺ BÌNH ĐỊNH 2011.
------o0o------



I/ Đề tài:

Tất cả các đề tài khuyến khích viết về quê hương con người Bình Định.

II/ Thể lệ cuộc thi:

- Mỗi bạn có thể gửi 1 hay nhiều bài dự thi.
- Bài dự thi chưa đăng báo in báo mạng hay in sách.
- Cuộc thi khuyến khích những cách viết mới sáng tạo.
- Tất cả thành viên trang http://binhdinhonline.org/ những người đang sinh sống học tập và làm việc tại Bình Định tất cả người Bình Định trên mọi miền Tổ quốc cũng như đang ở nước ngoài.
- Người gửi bài dự thi có độ tuổi không quá 25.

II/ Mục đích:

- Tạo cầu nối giữa các cây viết với CLB Sáng tác trẻ Bình Định.
- Khuyến khích động viên... các bạn trẻ đam mê tìm hiểu sáng tác thơ.
- Các tác phẩm đoạt giải sẽ được in thành sách.

III/ Thời gian và địa chỉ nhận tác phẩm dự thi.

- Bắt đầu nhận các tác phẩm dự thi từ ngày 01/01/2011 đến hết ngày 30/06/2011.
- Thời gian công bố và trao giải vào tháng 07/2011.
- Tác phẩm dự thi các bạn gửi trực tiếp trên diễn đàn http://binhdinhonline.org/ trong mục "thơ văn sáng tác"(từ tất cả các nơi gửi về) hoặc qua địa chỉ Email: conduong_linhtruong@yahoo.com crystal_b389@yahoo.com thuannguyen312@yahoo.com.vn boylangtu_qn26@yahoo.com
- Các bạn gửi thư tay về địa chỉ: Nguyễn Thị Phương Thúy - 99/9 Hai Bà Trưng - TP.Quy Nhơn - Bình Định.
- Ngoài phong bì và trên đầu Email ghi rõ: "Cuộc thi thơ CLB Sáng tác trẻ Bình Định 2011"
- Ban thư ký:

  • Quy Nhơn: Nguyễn Thị Phương Thúy.
  • TP.HCM: Lê Văn Linh Nguyễn Thuận & Lê Văn Quỳnh.
- Dưới mỗi bài viết các bạn điền đầy đủ các thông tin sau:
Họ và tên:
Ngày tháng năm sinh:
Địa chỉ liên lạc:
Chỗ ở hiện tại:
SĐT(nếu có):
Số CMNN:
Bút Danh(nếu có):
Nick YH và Email:


IV/ Cơ cấu giải thưởng:

1 giải nhất: 1.000.000đ.
2 giải nhì mỗi giải 700.000đ.
3 giải ba: mỗi giải 500.000đ.
5 giải khuyến khích: mỗi giải 300.000đ.

V/ Ban giám khảo:

- Ban sơ khảo: Ban cố vấn CLB Sáng tác trẻ Bình Định cùng nhà thơ Nguyễn Thanh Xuân nhà thơ Đặng Thiên Sơn nhà thơ Triều La Vỹ.
  • Ban sơ khảo có nhiệm vụ đánh giá các bài viết dự thi để tuyển đăng trên Tạp chí văn học trẻ Bình Định(http://binhdinhonline.org/).

- Ban chung khảo: Hai nhà thơ Nguyễn Thanh Xuân Đặng Thiên Sơn và một số nhà thơ nhà văn tại Bình Định.
  • Ban chung khảo có nhiệm vụ lựa chọn các bài viết đã qua sơ khảo để trao giải khi kết thúc cuộc thi.

VI/ Ban liên lạc.

Mọi thắc mắc các bạn có thể liên lạc theo các địa chỉ sau:
- Quy Nhơn: Nguyễn Thị Phương Thúy.
SĐT:01224421353 hoặc 0988200224
Nick YM: crystal_b389
Email: crystal_b38@yahoo.com
- TP.HCM & các nơi khác: Lê Văn Linh Nguyễn Thuận & Lê Văn Quỳnh.
Lê Văn Linh:
SĐT: 01698035510.
Nick YM: conduong_linhtruong
Email: conduong_linhtruonng@yahoo.com
Nguyễn Thuận:
SĐT:01688180087.
Nick YM: tuyetden312
Email: thuannguyen312@yahoo.com.vn

Lê Văn Quỳnh:
SĐT:0937467258
Nick YM:boylangtu_qn26
Email: boylangtu_qn26@yahoo.com

More...

GĐAT Tiền Giang và "Nhịp cầu nhân ái"

By Gia đình Áo trắng


 

GĐAT Tiền Giang và nhịp cầu nhân ái


Ngày 27-11-2010 nhà thơ Lá Me (trưởng GĐAT TG) cùng thầy Lê Quang Huy (phó trưởng GĐAT TG - hội viên Hội Văn học & nghệ thuật TG) đã đến trao trên 10 triệu đồng cho em Bùi Ngọc Hân (huyện Tân Phước) cô Phan Thị Nô (huyện Châu Thành) và chị Huỳnh Thị Phượng (huyện Cai Lậy).

Vượt qua hơn 70 km đoàn tìm đến nhà em Bùi Ngọc Hân ở ấp Mỹ Lộc xã Thạnh Mỹ huyện Tân Phước tỉnh Tiền Giang. Được biết em Bùi Ngọc Hân đang học lớp 6/1 Trường THCS Thạnh Mỹ. Đầu năm 2010 Ngọc Hân đi học và ngất xỉu tại lớp. Gia đình đưa em đến  bệnh viện huyện tỉnh rồi đến bệnh viện Nhi Đồng 1 được bác sĩ chẩn đoán là bệnh viêm não và thông báo cần 40 triệu đồng để chữa trị. Nhà Ngọc Hân thuộc diện hộ nghèo của xã cả gia đình chỉ trông vào mấy công đất phèn trồng khoai mỡ nhưng mỗi năm chỉ thu hoạch một mùa. Bản thân cha mẹ Ngọc Hân cũng bị bệnh khớp và đau bao tử. Nhận được tin báo của cô Trần Thị Xuân Giang (hiệu trưởng Trường THCS Thạnh Mỹ) nhà thơ Lá Me và các thành viên đã nhanh chóng đến thăm và tặng 2.500.000 đồng giúp Ngọc Hân chữa trị bệnh. Đồng thời GĐAT TG còn liên hệ với báo Dân Trí (Hội Khuyến học Việt Nam) vận động giúp đỡ thêm cho gia đình Ngọc Hân 8.600.000 đồng.

Tiếp tục đoàn đến với gia đình cô Phan Thị Nô (50 tuổi) ở ấp Hòa xã Nhị Bình huyện Châu Thành Tiền Giang. Gia đình cô Nô có năm thành viên là một trong những hộ nghèo nhất xã. Chồng cô Nô (chú Nguyễn Văn Trung) bị bệnh tâm thần hơn mười năm nay. Còn ba người con đều đang đi học. Riêng bản thân cô Nô cũng đang mang căn bệnh động kinh hành hạ suốt mấy năm qua. Gia đình cô không có đất đai canh tác phải sống nhờ trên đất của Thánh thất Nhị Bình. Thu nhập của cả năm miệng ăn chỉ trông vào nghề làm chiếu và xe nhang. Số tiền mỗi tháng 250.000 - 300.000 đồng ít ỏi chỉ tạm đủ lo thuốc thang cho chồng và bản thân cô Nô. Hiểu được hoàn cảnh khó khăn GĐAT TG đã đến thăm hỏi và tặng gia đình cô Nô 2.500.000 đồng. Ngoài ra GĐAT TG còn vận động bạn bè người thân và báo Giáo Dục & Thời Đại ủng hộ thêm cho cô Nô 4.500.000 đồng.

Cuối cùng đoàn tìm đến chị Huỳnh Thị Phượng (25 tuổi) ở ấp 3 tổ 5 xã Mỹ Thành Bắc huyện Cai Lậy. Chị Phượng chẳng may bị phỏng lửa dầu khi thắp đèn ngủ. Bác sĩ ở Bệnh viện Chợ Rẫy chẩn đoán chị bị tổn thương vùng da đến 70% và cần trên 130 triệu đồng để chữa trị. Số tiền chữa trị là quá sức với nghề làm thuê của vợ chồng chị Phượng gia đình đành ngậm ngùi chở chị Phượng về nhà. Khi nhận được tin báo nhà thơ Lá Me và các thành viên đã hỗ trợ  gia đình chị Phượng 5.000.000 đồng để chữa trị bệnh. Chú Huỳnh Văn On (cha ruột chị Phượng) xúc động nói: "Tôi thay mặt gia đình cám ơn GĐAT TG đã giúp đỡ cho hoàn cảnh của con gái tôi. Số tiền ấy sẽ giúp cháu Phượng rất nhiều!".


VĨNH SƠN

More...

"Xiếc" chữ và đời thực

By Gia đình Áo trắng


 

"Xiếc" chữ và đời thực
* NGUYỄN QUANG THÂN

          Đời sống luôn tồn tại một cách độc lập. Cái bát hay cái chén hoặc tiếng Anh tiếng Pháp gọi nó là gì gì đi nữa thì nó cũng vẫn thế không ảnh hưởng gì đến người dùng nó để đựng cơm đựng nước. Sự thật ấy là hiển nhiên.
          Tuy vậy vẫn do những lý do khác nhau người ta luôn muốn thay đổi bản chất của sự vật bằng những trò xiếc chữ. Hãy nghiền ngẫm loại văn báo cáo phổ biến nhất. Chúng được soạn thảo để thay mặt tổ chức (công ty cơ quan hay đoàn thể) công bố thông tin ra ngoài xã hội. Thay vì "gọi con bò là con bò" người ta gọi nó là "con sư tử có sừng". Thay vì nói thẳng năm này tháng này công ty thua lỗ nợ nần làm ăn không tương xứng với hy vọng hay kế hoạch người ta viết "đạt thành quả hạn chế". Thay vì nói thẳng trong cơ quan có chuyện tranh giành đấu đá các phe phái vu cáo nhau gây rối cho tổ chức người ta viết "đoàn kết nội bộ chưa thật chặt chẽ"... Vì thế các bản báo cáo luôn tràn ngập những từ và cụm từ "lấp lánh lá ngụy trang" như: đồng thời bên cạnh đó song song tuy nhiên mặc dù không ngừng v.v...
Bản thân những từ này không có màu sắc nhưng từ ngòi bút của những người làm xiếc chữ chúng trở thành đồng lõa để che đậy dối trá hay lừa mị phổ biến nhất là để lấy "mồm miệng thay tay chân". Tôi đã từng đọc một báo cáo cấp xã: "không ngừng tăng cường đàn heo nái đồng thời phát triển heo thịt và củng cố một bước đàn gia súc có sừng". Hỏi ông chủ tịch (người đọc báo cáo trước HĐND) rằng xã mình hiện có bao nhiêu heo nái bao nhiêu heo thịt ông mù tịt. Hỏi ông lấy vốn đâu có biện pháp gì để "củng cố một bước" đàn gia súc có sừng một bước là bao nhiêu con ông bảo sẽ tính sau. Chắc chắn đọc báo cáo cho các vị hội đồng yên tâm rồi bỏ xó.
           Từ những năm sau đổi mới cho đến tận hôm nay do bung ra từ dây trói bao cấp bỗng dưng bùng nổ những khái niệm xiếc chữ. Dẫn chứng trường hợp "trường công lập tự chủ tài chính" hay "xã hội hóa" v.v... Trường công xưa nay là của Nhà nước. Loại hình nhà trường này nước nào cũng duy trì và tùy theo khả năng ngân sách mà phát triển để đảm bảo phúc lợi của dân và vai trò khuôn mẫu giáo dục quốc gia. Ngoài ra là trường tư (tư thục) do tư nhân đầu tư khi trường công không thể thỏa mãn chỗ học. Nhà nước có thể cấp những khoản tài trợ cho vay hay không hoàn lại. "Trường công tự chủ tài chính" có lẽ là trường hợp này. Tại sao không gọi thẳng đó là "trường tư thục"? Nhiều trường công học phí lên tới cả triệu đồng thì sao còn gọi là trường công? Còn "xã hội hóa"? Thực chất đó là tư nhân nguồn tiền ngoài ngân sách ra chỉ còn là tư nhân dù là công ty TNHH cũng là tư nhân từ "xã hội" cũng như "toàn dân" đưa lại sự mơ hồ chủ thể có chăng nó chỉ nói lên rằng ta vẫn còn sự kiêng kỵ không cần thiết nào đó.
           Làm xiếc chữ chính là một biểu hiện xơ cứng tư duy khi người ta thiếu cảm hứng thiếu sáng tạo hay lười suy nghĩ. Chữ nghĩa bị sáo mòn vì không có nội dung như đồng tiền không có vàng bảo đảm. Vấn đề không phải là chỉnh đốn sửa chữa cách viết báo cáo. Đó chỉ là hình thức. Cái chính là cần phải trung thực trong mọi trường hợp công tư thắng thua tốt xấu rõ ràng đẩy lùi nạn giả dối đang ăn mòn đạo đức xã hội. Bản thân ngôn ngữ không có tội gì nhưng ngôn ngữ là những thứ dễ bị lợi dụng nhất vì lời nói không mất tiền mua vì lời nói có thể giúp người ta che đậy hay ngụy trang cái trống rỗng cái lừa mị hay hiểm độc bên trong. Nếu làm trò xiếc với câu chữ lâu năm thì sẽ đến lúc chính bản thân những "diễn viên" xiếc ấy cũng không biết mình là ai nữa. Đời thực có sức mạnh tự bản thân nó như con tàu lừ lừ chạy trên đường ray luôn ngoài ý muốn xiên xẹo của những người thích làm xiếc chữ.

( Nguồn: Báo Phụ Nữ TPHCM )

More...

Tháng 12 và tôi

By Gia đình Áo trắng


 

* LƯU THỊ CẨM HUYỀN

Tháng mười hai và tôi


Tháng mười hai...
Nắng quá hiền chẳng hâm nóng nổi 
                              buổi chiều

Tâm hồn tôi buốt lạnh qua bao lần về ngang  lối cũ
Gió ngoan cố chẳng biết nghe lời
Vắt kiệt sức mình thổi rát tháng mười hai.


Vẫn tựa mình trên lênh đênh 
                             tháng mười hai

Mùa đông khiến thị trấn trở nên trầm cảm
Rồi ủ dột thị trấn hóa rêu phong


Tháng mười hai buồn mà đẹp
Tôi tuổi buồn liệu là tuổi đẹp không mùa ơi?
Tách cà phê chẳng còn nhỏ giọt
Và dẫu buồn đến từng kẽ tóc


Cũng chẳng khóc nổi cho mình 
 một giọt tinh khôi
Khóe mi tôi ráo hoảnh
Mình già dặn giữa thơ ngây
Hay đã trưởng thành?


Tách cà phê lạnh đi giữa tháng mười hai...


L.T.C.H

(Lớp 12C THPT Phạm Văn Đồng Mộ Đức Quảng Ngãi)

More...

Người lính của tôi

By Gia đình Áo trắng


 

* HÀ THỊ HẢI

Người lính của tôi


Nếu như được lựa chọn

Tôi sẽ chọn anh

Một chàng trai đa cảm với tấm lòng vị tha

Nếu như được lựa chọn


Tôi vẫn chọn anh

Bởi nụ cười tươi tắn

Và ánh mắt trong trẻo như vệt nắng vàng

                          tỏa nhẹ cuối trời thu


Nếu như được lựa chọn

Tôi sẽ vẫn chọn anh

Chàng trai yêu biển cả mênh mông

Yêu màu xanh của mây trời

             của hòa bình và khát vọng tuổi trẻ


Và nếu được chọn tôi vẫn chọn anh

Chàng trai yêu chiếc mũ tai bèo

Yêu màu xanh của hi vọng

Và yêu tôi bằng một tình yêu chung thủy  

                               nghĩa tình


Là anh đó - người lính của đời tôi...

H.T.H

(VHH K32 ĐH Đà Lạt)

More...

Tiễn mưa

By Gia đình Áo trắng


 

* NGUYỄN THÀNH GIANG

Tiễn mưa


Nghiêng tai
tiếng vọng mùa còn
Lòng bay ngược gió
phố mòn dáng xưa.


Tiễn hè
vắng những chiều mưa
Thì thào bên tóc
em vừa mộng say.


Ta về
phố đã tàn ngày
Mắt em
giờ đã loang đầy mắt đêm.


N.T.G

More...

Những mùa Noel

By Gia đình Áo trắng


 

NHỮNG MÙA NOEL

* PHAN THỊ HOÀI THU

   

Tôi thích Noel chắc cũng giống như mọi người thôi. Không biết từ khi nào một ngày lễ lớn của những người theo đạo Thiên Chúa lại được mọi người hưởng ứng  nồng nhiệt đến như vậy!

     Tôi đã khóc suốt ngày Noel năm ấy chỉ vì "nợ" mẹ một lời xin lỗi. Tôi đã năn nỉ mẹ xin được đi chơi Noel với mấy đứa bạn   để rồi quyết định được đặt ra là: "Không đi đâu hết!Ở nhà!".Tôi ghét mẹ càng ghét hơn khi sau đó nghe lũ bạn kể say sưa về cuộc đi chơi đầy thú vị và vui vẻ đó. Tôi lại khóc lại hối hận vì sao mình lại bướng bỉnh đến vậy một lời xin lỗi mà cũng không thể nói ra được. Đó là năm tôi học lớp 11.

    Năm tôi học 12 tôi đã lớn (tôi nghĩ vậy) và bố mẹ cho tôi đi chơi nhưng phải về sớm vì gia đình tôi có người ốm nặng sợ không qua khỏi. Giọng bố tôi buồn buồn : "Con đi chơi cẩn thận rồi nhớ về sớm nhé!". Có gì lăn trên khoé miêng tôi mặn chát. Tôi biết nếu từ bỏ cuộc vui này thì sẽ rất tiếc vì là năm cuối cấp năm sau tôi có còn cơ hội đi chơi Noel với hội bạn này nữa không? Đắn đo mãi tôi vẫn quyết định đi và về sớm. Đã lâu lắm rồi tôi không được đi chơi Noel mà tôi vui lắm càng vui hơn khi đi cùng hội bạn thân. Chúng tôi trầm trồ với những hang đá rực rỡ màu xanh đỏ lung linh huyền ảo của đèn led những hộp quà nhỏ những hạt xốp những tấm thiệp chúc mừng trên cây thông Noel được lắng nghe những bản nhạc êm đềm về Giáng Sinh. Tôi trở về nhà lúc 10g đêm trong sự tiếc rẻ khi mọi người vẫn còn vui vẻ xem văn nghệ. Nhưng tôi không hối hận...

   Rồi mùa Giáng Sinh ấy cũng qua đi tôi hiểu rằng đó là Noel đầy kỷ niệm nhất của thời học sinh. Lên đại học tôi sống cuộc sống xa gia đình. Giáng Sinh tôi không thể về được vì đó đâu phải là Quốc lễ. Dù ở một thành phố xa quê nhưng tôi vẫn cảm nhận được sự hối hả nhộn nhịp của mọi người sắp đón chào một mùa Giáng Sinh mới.Những bộ quần áo ông già Noel với chòm râu trắng muốt những thứ đồ chơi trẻ em nhìn thật vui mắt. Đi qua một nhà thờ lớn tôi thấy ánh đèn nhấp nháy trên bức tượng Chúa với ngọn Thánh giá cao vút. Hang đá ở đây lớn hơn trong gia đình những người bạn mà tôi từng thấy. Và những bản nhạc quen thuộc vẫn vang lên thật du dương như ru lòng người  vào cõi thiên thai. Nói chung là đẹp lắm tôi không thể tả hết được. Nhưng tôi buồn buồn không phải vì bố mẹ không cho đi chơi. Ngày lễ tôi có thể tự cho phép bản thân nghỉ một bữa để đi chơi giờ tôi học xa nhà nên bố mẹ cũng không cấm đoán chuyện này. Nhưng không có ai...! À mà có chứ tôi được mời đi chơi cùng mấy người trong xóm trọ nhưng đi được một đoạn tôi lặng lẽ quay về... Và  tự dưng tôi nằm khóc một mình khóc như bị ai bắt nạt vậy. Tôi nhớ lại Giáng Sinh năm trước khi vẫn còn là một cô bé hồn nhiên được bên bạn bè nắm tay nhau trong đêm Noel lạnh giá cảm nhận được chút thân tình ấm áp. Nằm trong căn phòng trống vắng  tôi nhớ lại những điều mà nó mãi đi vào ký ức để lại trong tôi và trong mỗi người bạn là những kỷ niệm đẹp.

    Năm nay tôi đã trưởng thành hơn là sinh viên năm hai rồi... Lại sắp chào đón một mùa Giáng Sinh mới. Không biết nó sẽ thế nào nhỉ? Chắc chắn lại một mùa Giáng Sinh xa nhà nữa nhưng hy vọng nó sẽ không buồn như năm trước. Vì giờ đây mặc dù không ở bên cạnh tôi nhưng tôi biết ở nơi xa ấy có một người vẫn luôn dõi theo bước đi của tôi mong tôi được vui vẻ - đó là anh. Và tôi mong chờ... Chờ Giáng Sinh đến... Tôi cầu nguyện... để một niềm vui bất ngờ sẽ "giáng sinh" trong tâm hồn tôi lóe sáng như những vì sao lấp lánh...

P.T.H.T

( TH Văn B K.32 - ĐH Quy Nhơn )

More...

Sự bao cấp trong thơ

By Gia đình Áo trắng


 

* Anh Ngọc

Sự bao cấp trong thơ


Bài viết này chỉ đề cập đến tình hình thơ trong khu vực văn học Cách mạng từ sau 1945 đến ngày đất nước bước vào Đổi mới. Trong giai đoạn ấy nền thơ ta đã có những thành tựu to lớn. Đã có nhiều bài báo trang sách viết về điều này. Tuy nhiên nền thơ ấy cũng đã bộc lộ những khiếm khuyết. Nếu như mỗi bài viết không nhất thiết là một bản báo cáo có đầy đủ các mặt của một hiện tượng mà có thể chỉ đề cập đến một mặt trong số đó thôi - thì bài viết này tôi chỉ xin được dành cho một vấn đề: Những mặt còn yếu kém của nền thơ ta trong hơn bốn mươi năm qua. Hy vọng các bạn đọc thân mến sẽ thông cảm với cách đặt vấn đề như vậy.

Anh Việt Phương đã có lần tâm sự rất chân thành rằng anh luôn băn khoăn không hiểu cái thứ bao nhiêu năm nay mình vẫn viết có phải là thơ hay không. Sách anh in ra được gọi là tập thơ anh cũng được gọi là nhà thơ - nhưng băn khoăn ấy của anh là có thật và có lý. Trường hợp Việt Phương là tiêu biểu nhưng không hề là cá biệt. Suy rộng ra băn khoăn ấy đã ám ảnh nhiều người làm thơ chúng ta trong đó có cả người viết những dòng này. Bởi vì cũng như anh Phương khi đối chiếu thơ mình với thơ của tiền nhân và thơ thế giới tôi cảm thấy rất rõ một sự khác biệt nhãn tiền. Đây không phải là việc hay hay là dở - cái khác biệt này nằm ở bản chất của chính thơ.

Thế hệ chúng tôi lớn lên cùng với cách mạng và một ý thức đã hình thành và mọc rễ ở trong chúng tôi rằng: Lịch sử đã chia làm đôi một cách quyết liệt - thành hai nửa: Trước và sau Cách mạng. Mặc dù chúng ta luôn nói đến sự kế thừa nhưng quả thật lắm khi bằng cả lời nói và việc làm - chúng ta tự đặt mình cao hơn tất cả. Chỉ có ta mới là chân lý mới là đỉnh cao ta là một lớp người hoàn toàn khác một thời đại hoàn toàn khác. Ta có quyền ngắm nhìn quá khứ và cả thiên hạ nữa bằng con mắt phán xét và thẩm định mọi giá trị. Thế rồi cùng với thời gian ta như một đứa trẻ càng lớn lên càng rơi rụng bớt những ảo tưởng về mình. Sau những trả giá sòng phẳng cho những ảo tưởng ấy ta đã dần dà trưởng thành để kịp hiểu ra rằng: Ta cũng chỉ là những con người bình thường như mọi người thôi rằng mọi sự vẫn cứ diễn ra theo đúng quy luật của muôn đời không ai có thể đứng ngoài chúng. Sự thật là hơn bốn mươi năm qua ta đã sống trong một trạng thái bất bình thường. Thời gian ẩy đối với một đời người qủa là dài để cái bất bình thường trở thành bình thường đến nỗi bây giờ đây có nhiều người vẫn chưa ra khỏi giấc mơ ban đầu đó. Nhưng với lịch sử thì bốn mươi năm đó chỉ là một ngoại lệ nhỏ bé. Lịch sử vẫn cuồn cuộn trôi đi và cuốn theo những ngoại lệ vào dòng chảy của mình. Công cuộc hoà nhập trở lại tuy thế không hề dễ dàng nó đòi hỏi chúng ta biết bao dũng cảm chân thành và sáng suốt - một khả năng tự thanh lọc rất cao.

Với những người làm thơ tình hình diễn ra cũng đúng như vậy.

 Ít lâu nay mỗi khi hình dung về những người làm thơ đích thực - những tiền nhân của chúng ta và các nhà thơ lớn của thế giới - tôi thường vẽ ra cái cảnh họ ngồi trước trang giấy trắng mà trong đầu không hề bị ràng buộc vì một cái gì trước mắt không có một khuôn mẫu nào một mệnh lệnh nào hoặc như ta vẫn  thường nói một "đơn đặt hàng" nào. Họ chỉ lắng nghe chính mình chỉ khao khát diễn đạt những gì mình khao khát mình tâm đắc. Ngay cả về hình thức họ cũng chỉ đào sâu vào chính họ - nói như Viên Mai: lúc thường một phút cũng không được quên người xưa lúc làm thơ một phút cũng không được nhớ người xưa. Công việc sáng tạo của họ là của riêng một người họ chỉ chịu trách nhiệm trước bản thân mình mà thôi. Họ đạt đến tự do.

Còn với chúng ta thì sao? Mỗi khi cầm lấy bút là trong đầu chúng ta đã có sẵn hầu như tất cả những câu hỏi và gợi ý tựa như những thí sinh bốc thăm được câu hỏi thì phải biết cần huy động những kiến thức gì trong kho tàng kiến thức đã được các thầy và sách vở cung cấp sẵn. Chúng ta có trước mắt nào là: Đề tài chủ đề cách giải quyết cho đến những kết luận cần thiết. Thậm chí cả về hình thức chúng ta cũng đã có những định hướng cụ thể: Phải đại chúng và dân tộc như thế nào và phục vụ công nông binh ra sao v.v. . . .  

Nói cho công bằng việc đó có cái lợi và cũng có cái bất lợi. Lợi là nó đơn giản hoá việc làm thơ đi nó đẩy những thứ như tài năng thiên bẩm khả năng rung động bản sắc cá nhân và nhất là tầm suy nghĩ sâu sắc... vốn là những phẩm chất đặc trưng của người nghệ sĩ xuống hàng thứ yếu và giúp cho nhiều cây bút gặt hái được nhiều mà không cần mấy đến thực tài. Có lẽ vì thế mà từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay chúng ta mới có nhiều "nhà thơ" hơn bao giờ hết. Chỉ cần có hai ba chục bài thơ loàng xoàng in thành một tập là đã được gọi là "nhà thơ" rồi. Còn cái hại thì có lẽ đến hôm nay ít ai không nhìn thấy: Nó hại cho thơ đích thực hại cho những nhà thơ đích thực.

Sự bao cấp về nhiều phương diện đã đẩy văn học nói riêng và thơ nói chung đến ba con bệnh khó tránh đó là: tính công thức tính sơ lược và tính giả tạo.  

Có người nói sở dĩ có hiện tượng đó là vì các nhà văn nhà thơ chúng ta là những người làm công ăn lương. Quả thật trong xã hội chúng ta hầu hết mọi người đều là người làm công ăn lương từ cán bộ công nhân viên chức đến thợ thủ công và cả nông dân cũng là những người ăn lương trên chính sản phẩm của mình. "Ăn cơm  chúa múa tối ngày" cái tâm lý ấy tất nhiên phải có rồi kể cả ở những người ăn lương ...để làm thơ lẫn những người ăn lương để làm việc khác và kết hợp làm thơ. Tuy nhiên đấy chỉ là biểu hiện nhìn thấy của một bản chất sâu xa hơn. Bởi vì ngẫm ra hầu hết các thi nhân kim cổ đều có "ăn cơm chúa" cả nhưng ngoài phần thơ trả nợ áo cơm phần riêng của họ còn lại cũng còn nhiều lắm.

 Đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy các nhà thơ của ta có đời sống riêng không hơn gì nếu không muốn nói là nhiều khi còn thua kém đời sống của những người nghèo khổ trong xã hội. Ấy vậy mà họ vẫn mắc bệnh "quan liêu" và thơ họ vẫn mang nặng chất của một thứ văn chương "tháp ngà". Một khi tư tưởng đã có sẵn thì cảm xúc cũng phải khuôn theo đó và công việc làm thơ chỉ còn là tìm tòi cách để ca sao cho thật véo von những điều
ai cũng đã biết.


 

Câu thơ nửa đùa nửa thật của Xuân Diệu:

Em có tài nấu nướng

Anh có tài ngợi khen

Dẫn ra ở đây cũng khá thích hợp cho ta suy nghĩ: Em có tài thì anh  khen là phải quá đi rồi thậm chí nếu em không có tài mà vì anh trót yêu thì anh vẫn cứ khen mà chẳng ai nỡ trách nhưng đến cái đoạn tình yêu không còn món ăn thì khó xơi mà vẫn cứ khen thì chỉ có thể vì sợ vì vụ lợi hoặc vì... thói quen mà thôi. Và với tinh thần "duy ý chí" như vậy cả công việc đi thực tế mà hơn ai hết chúng ta rất khuyến khích cũng không còn mang ý nghĩ thực sự của nó. Cũng như trong văn xuôi và báo chí chúng ta không tìm cách phản ánh cuộc sống như nó vốn có mà đi tìm những chất liệu khả dĩ có thể minh hoạ cho những tư tưởng định sẵn từ ở nhà. Từ đó mà tạo ra những hình mẫu nhằm mục đích giáo dục và làm gương cho mọi người. Mà một khi đã là hình mẫu thì dù có đủ cả mọi bộ phận nhưng vẫn chỉ là những cơ thể không có sức sống. Văn và thơ đã trở thành những bài học luân lý mang đầy tính ước lệ mới (có nhiều dẫn chứng cho nhận định này - có thể thấy tiêu biểu trong những tác phẩm viết về cuộc đời các anh hùng kể cả "Trường ca Nguyễn Văn Trỗi" của nhà thơ Lê Anh Xuân tài năng cũng không thoát ra ngoài tình trạng này).

Ở đây có lý do bắt nguồn từ một nguyên lý có tính nền tảng - chúng ta coi văn học là một vũ khí để phục vụ chính trị và cách mạng. Sự thật văn học cách mạng đã làm được khá nhiều trong sự nghiệp giải phóng nhân dân giải phóng con người dưới khẩu hiệu đó nhưng nếu quan niệm này bị lạm dụng bị sử dụng một cách thô thiển và cứng nhắc như chúng ta vẫn thấy thì thực chất là đã  hạ thấp văn học xuống rất nhiều. Cũng như vậy chỉ một bước thôi nhiều lúc có người lại coi văn học như một món trang sức một thứ đồ chơi. Cả hai quan niệm ấy - như vũ khí hoặc như đồ chơi - tưởng như rất xa mà lại rất gần nhau vì bắt nguồn từ một bản chất và hiển nhiên là cả hai đều bất cập. Tôi nghĩ rằng thơ nói riêng và văn học nói chung có khi là cả hai mà có khi không là cái gì cả - bởi vì có khi nhà thơ viết cho người đọc vì người đọc mà cũng không ít khi họ viết chỉ vì chính mình mà thôi.

Như vậy là thơ đã bị bao cấp từ nhiều phía và điều tất nhiên dẫn đến là đến lượt mình thơ lại bao cấp lại với độc giả. Thơ không còn là món ăn tự nhiên với mùi vị của chính thiên nhiên mà là những thức ăn sản xuất từ phòng điều chế theo những công thức dinh dưỡng cần thiết hoặc giống với những thứ thuốc viên nhiều hơn.

 Tuy nhiên có gò bó thì có chống gò bó: Trong suốt cả quá trình ấy đây đó ta vẫn bắt gặp những bài những dòng thơ thật sự những cảm xúc những suy tư và cả những tìm tòi hình thức vượt ra ngoài khuôn khổ chung. Những nhà thơ có bản sắc mạnh đã tìm mọi cách đan cài phần riêng của mình vào tác phẩm (cách đây gần một phần tư thế  kỷ khi Lưu Quang Vũ mới vào nghề tôi có hỏi anh về dự tính công việc Vũ đáp: Cố gắng đưa được cái "mình" vào càng nhiều càng tốt - như vậy là anh ý thức về điều này rất sớm và thực tế Vũ đã phần nào làm được theo ý mình).

Rèn luyện lâu dài và thường xuyên trong công việc "viết" và "lách"  nên dần dà nhiều người trở nên lọc lõi về khoản này kỹ thuật rất tinh vi thủ đoạn rất cao cường nếu đem thi thố với thế giới chắc không chịu thua kém. Thậm chí có người còn nói vui: Chính nhờ như thế mà văn chương mới thêm kín đáo hàm súc và tinh tế chứ nếu cứ mặc sức muốn nói gì thì nói e lại mất duyên đi!

 Trước hết với lớp thi sĩ đàn anh từ tiền chiến đến với Cách mạng. Có một số trong các ông hầu như đã chấm dứt ngay dòng thơ hoặc nếu có viết thì cũng hết sức mờ nhạt so với thành tựu trước Cách mạng: tiêu biểu là Nguyễn Bính Hồ Dzếnh Đoàn Văn Cừ. Có thể kể cả Thâm Tâm. Họ làm những việc khác không thua kém bất cứ ai nhưng thơ thì đã tự thua chính mình. Cắt nghĩa điều này có nhiều cách nhưng tôi lưu ý nhất đến câu trả lời của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trên tờ "Cửa Việt" ra gần đây khi được hỏi tại sao so với trước năm 1975 giờ đây ông viết ít đi và yếu đi Trịnh Công Sơn đã nói: "Bỗng dưng tôi mất hẳn lòng say mê được trình bày những điều mới lạ trong sáng tạo. Chẳng hiểu bắt nguồn từ đâu. Chỉ cảm thấy mơ hồ một sự trục trặc một cái gì đó đã lệch đi trong đời sống tinh thần và tình cảm của mình. Nói chung hình như tôi không còn bị cám dỗ bởi những giấc mơ nữa".

Phần đông trong số họ và là những nhà thơ tiêu biểu sau một thời gian trăn trở đã trở lại làm thơ. Họ viết khoẻ số đầu sách nhiều gấp mấy thời trước và còn làm thêm nhiều việc khác nữa. Không thể nói phần đóng góp sau Cách mạng của các nhà thơ này là không to lớn nhưng sau hơn bốn mươi năm biến động giờ đây nhìn lại thì phần  thơ giàu hương sắc nhất của các tác giả này vẫn là phần thơ tiền chiến. Hầu hết các tác giả từ Xuân Diệu Huy Cận Lưu Trọng Lư.... đều nằm trong trường hợp này. Tế Hanh bước vào  cách mạng khi còn rất trẻ và với bản sắc của một người sống nhiều bằng cảm tính nên có lẽ là nhà thơ giữ được nhiều cái "mình" hơn cả . Chế Lan Viên người rất giàu lý tính có thể nói đã khai sinh ra một đời thơ mới nhưng với tất cả sức suy nghĩ sâu sắc trí thông minh tuyệt vời và một kỹ xảo thơ điêu luyện do tu dưỡng và học hỏi từ nhiều nền thơ thế giới thơ Chế Lan Viên vẫn khiến người ta phục vì tài nhiều hơn là yêu vì tình làm cho người ta sảng khoái khi nghĩ trong đầu hơn là  xúc động ghi vào trong tim. Và đó phải chăng cũng là một điểm yếu cốt tử?  

Tiêu biểu nhất là trường hợp Xuân Diệu. Trước cách mạng thơ Xuân Diệu là tiếng lòng da diết của một tâm hồn si mê cuộc sống lại được một tài thơ mạnh mẽ cùng với kỹ thuật học được của thơ Pháp nên đã gây xúc động to lớn trong người đọc nhất là tuổi trẻ. Sau Cách mạng ông hăng hái đi vào cuộc sống mới. Tài thơ của ông vẫn còn nguyên đó lại được bổ sung bằng bao công lao tìm tòi học hỏi không mệt mỏi. Cũng không thể nói tình yêu cuộc sống của ông giảm sút. Ấy vậy mà thơ ông xin anh linh ông tha thứ cho vẫn mất đi quá nhiều chất đắm say đến liều lĩnh chất huyền diệu và bí ẩn khi đi vào cõi u uẩn của lòng người cái buồn phảng phất vừa ngọt ngào vừa cay đắng. . . là những tố chất làm nên vẻ đẹp riêng của thơ Xuân Diệu trước kia. Thơ ông giống như một tấm vải nhung vẫn rất bền chắc màu sắc tươi đẹp nhưng không còn nữa cái lớp tuyết mơ hồ - làm nên sự hấp dẫn đặc trưng của chất liệu này. Tôi kính trọng những dòng thơ ông viết về đấu tranh thống nhất Bắc Nam về những mái ngói mới lợp về xác máy bay B52 v.v. . . nhưng hình như đấy lại là một Xuân Diệu khác. Giá như có thể thống nhất trở lại hai con người ấy ở trong một Xuân Diệu thì hay quá. Nhưng sự thể đã  không thể như vậy. Trong khi đó ở một chân trời khác Pablô Nêruđa chẳng hạn khi ông làm thơ kêu gọi tiêu diệt Nichxơn hay ông viết về đỉnh Michchu Pichchu đơn độc và hư vô thì chỉ là chảy ra từ một nguồn thơ mà thôi. Ngay trong thơ tình yêu sở trường của mình Xuân Diệu cũng đã nghèo đi rất nhiều. Ông đã trở thành người đứng từ ngoài mà ngắm nghía phân thích mổ xẻ tình yêu nhiều hơn là làm người trong cuộc để kêu lên những tiếng buồn vui đến xé lòng. Ông tỉnh táo và sáng rõ ông hợp lý và đúng đắn hơn ngày xưa bao nhiêu thì cũng khô cứng và nhạt nhẽo đi bấy nhiêu. Bài thơ hay nhất của ông về tình yêu là bài "Biển" cũng không thoát được khỏi tình trạng đó. So với nhiều bài thơ tình cùng thời đây là một trong những bài hay nhất và cũng hoàn chỉnh nhất. Nó đầy đủ hầu như tất cả những biểu hiện của tình yêu mà nhân loại đã đúc rút được. Nó là một "bữa tiệc" cho các thầy giáo dạy văn. Nhưng chính vì sự đầy đủ đó nó giống một mô hình về tình yếu hơn là một cơ thể sống của tình yêu. Nó giống như một lời gà hộ cho một người đi tỏ tình hơn là lời một người đang yêu say đắm.

Bước vào giai đoạn đầu chống Pháp trong bối cảnh hùng tráng và có cả bi thảm nữa với cái không khí tưng bừng của những ngày trăng mật của Cách mạng thơ ta đã có những bài thật hay với những tên tuổi mới: Quang Dũng Chính Hữu Hoàng Cầm; Hữu Loan - lúc này cảm hứng thơ của các ông vẫn còn nhiều chất tự phát chưa bị gò bó nhiều vì hệ thống quan niệm mới về văn nghệ mà có người cho là nhập cảng từ Trung Quốc. Rất tiếc là thời gian này quá ngắn ngủi nên thành tựu chưa nhiều.

Như trên đã nói thế hệ chúng tôi lớn lên như những đứa trẻ con đẻ của chế độ mới được bố mẹ chăm bẵm lo cho đủ mọi thứ từ vật chất đến tinh thần. Những ông bố bà mẹ đầy tự hào về gia thế đã ra sức nuôi dưỡng và giáo dục lũ trẻ một cách thật nền nếp nghiêm ngặt. Chúng tôi luôn luôn được xem là trẻ ngoài bốn mươi tuổi vẫn là nhà thơ trẻ in mấy tập thơ rồi vẫn cứ là "mầm non" nhiều triển vọng... Người ta xoa đầu chúng tôi và chúng tôi cũng thích như vậy.

Tôi có thể dẫn ra đây rất nhiều ví dụ trong thơ của những người cũng thế hệ . Nhưng để tránh động chạm đến người khác và vì ít nhiều tôi cũng là một người sáng tác nên xin phép được dẫn chính mình. Là một người cũng đã luôn cố gắng tìm sự độc lập trong suy nghĩ nhưng một phần do đã thấm vào tận máu các giáo lý từ nhà trường và xã hội và một phần không đủ bản lĩnh để sống và viết hoàn toàn theo ý mình nên tôi cảm thấy những gì mình đã viết ra trước đây thực sự khô cứng và thiếu sức sống. Trong một đoạn viết trong trường ca sau này tôi đã nói về ý nghĩ ấy:

Tôi đi qua tuổi học trò

Nói năng khuôn phép câu thơ sáo mòn

Cười mình quen thói đại ngôn

Thương vay khóc mướn véo von một thời

Câu thơ dẫu viết xong rồi

Vẫn như thấy thiếu một lời ở trong

Một lời thốt tự đáy long

Một lời vẽ được chân dung của mình

Và tôi đã quyết định đoạn tuyệt với nó:

Cái véo von mà tôi đã chối từ

Không thương tiếc không bao giờ ngoảnh lại

Cái "khuôn phép" cái "sáo mòn" cái "thương vay khóc mướn" và "véo von"  mà tôi nói ở đây là đặc điểm cửa thứ thơ dở mà thực ra ở thời nào cũng có nhưng ở thời chúng ta nó khác ở chỗ đã trở thành phổ cập và được bảo vệ bằng lý luận.

Tôi viết ít in ít hoàn toàn không phải là người có thể tiêu biểu cho thế hệ mình nhưng tuy thế những thiếu sót và yếu kém những hạn chế của chủ quan và nhất là của khách quan thời đại ở tôi vẫn mang tính điển hình rõ rệt.

Mổ xẻ hiển nhiên không thể thích thú như được mơn trớn nhất là lại tự mổ xẻ chính mình . Tuy nhiên nếu thành thực với chính mình thì chúng ta không thể làm khác. Bởi vì nếu chẳng may có đánh mất quá khứ thì đó là điều đáng buồn nhưng quan trọng hơn rất nhiều là không thể để mất tương lai vì mất tương lai là mất tất cả. 

Có thể những ý kiến trên đây của tôi sẽ bị coi là bi quan và quá nghiêm khắc. Tuy nhiên đó thật sự là những suy nghĩ chân thành của bản thân tôi. Và với những gì được phát biểu một cách chân thành thì chỉ có thể đúng hoặc sai chứ không thể có ác ý.

Ngày 29-3-1991

(Tạp chí Văn Học 5- 1991)

More...

Buổi chiều bánh rán

By Gia đình Áo trắng


 

+ Bài tham dự cuộc thi truyện mini "Nơi tôi đang sống"

Buổi chiều bánh rán

* PHẠM THANH THÚY


Bây giờ kiếm việc làm thêm rất khó. Tôi đành sắm chiếc xe đạp cái tủ kính nhỏ đựng bánh rán rồi mỗi buổi chiều đạp xe vào các ngõ cất tiếng rao lanh lảnh. Hôm đó tôi dừng lại ở một sân chơi nhỏ có bầy trẻ thơ đang chơi đùa. Một đứa níu lấy tay bà cụ vòi vĩnh:

- Bà mua bánh cho con đi bà.

- Không ăn bánh đâu sâu răng đấy con ạ.

Tôi không bỏ lỡ:

- Bánh ít đường bà ạ. Bà mua cho cháu đi rẻ thôi mà.

Bà cụ gượng cười:

- Thôi cô lấy cho cháu mấy cái nhưng... chờ tôi về lấy tiền nhé. Nhà tôi trong kia.

Bà cụ nhận bánh cho cháu rồi đi vào trong ngõ. Tôi vừa đợi vừa bán bánh. Khi tủ bánh đã vơi tôi mới nhớ ra không thấy bà cụ quay lại. Lửa giận bốc lên đùng đùng: "Bà già lại còn lừa cả con trẻ hả! Nào có nhiều nhặn gì đâu. Đã thế mình phải tìm đến tận nơi đòi cho bằng được".

Nhà bà cụ hóa ra không xa sân chơi.  Cửa mở tôi gọi to mấy tiếng không thấy ai trả lời. Nghĩ bụng thôi đi ra là tốt nhất. Nhỡ ai tưởng mình là kẻ trộm thì nguy. Tình ngay lý gian.

Lúc quay ra chợt thấy hình như có ai đang nằm trên sàn tôi đánh bạo bước vào. Trời ơi! Bà cụ đang nằm bất động cánh tay vật ra phía trước còn nắm chặt mấy tờ bạc lẻ vuốt phẳng.

Chiếc xe cứu thương rú còi đưa bà cụ đi rồi nhưng lúc đó một nhóm người hằm hằm túm tay tôi lại. Ai đó xỉa xói vào mặt tôi : "Á à con ranh ăn trộm thối thây. Đã ăn cắp lại còn đánh người ta chết ngất. Đồ khốn nạn. Mày chết với tao".

Tôi xây xẩm mặt mày lúc tĩnh tâm lại đã thấy mình ngồi trong đồn công an phường bên cạnh là một ông cụ. Nỗi ấm ức khiến tôi oà khóc. Ông cụ vỗ vai tôi:

- Đừng lo. Không có cháu thì bà ấy đã nguy rồi. Bà ấy sẽ trở về và chứng minh cho cháu.

- Ông tin cháu ạ?

Tôi càng nức nở. Ông cụ mỉm cười gật đầu.

Ông cụ đã tin tôi. Và tôi cũng tin bà cụ sẽ bình an trở về. Bà cụ sẽ bình an trở về. 

P.T.T
(K12 ĐHVH Hà Nội)

More...