Văn học trẻ: Quả xanh đang đợi chín

By Gia đình Áo trắng

Văn học trẻ: Quả xanh đang đợi chín       

* Đời thường lấn át văn chương 

Nhà văn Phan Hồn Nhiên người ngoài nghiệp viết văn còn là biên tập viên của tạp chí Sinh viên Việt Nam có điều kiện tiếp xúc với rất nhiều bản thảo văn chương của các nhà văn trẻ có một nhận xét chung về các cây bút trẻ hiện nay: “Các bạn biết rất nhiều nhiều hơn hẳn thế hệ ngày xưa nhưng ngược lại các bạn lại hiểu quá nông về những vấn đề mà các bạn biết”.

Cái sự biết nhiều và hiểu quá ít đó ảnh hưởng trực tiếp đến sáng tác của các nhà văn trẻ. Vì không hiểu rõ về cuộc sống nên các nhà văn trẻ chọn cách đơn giản nhất trong sáng tác là viết những cái của chính mình. Chuyện tình yêu chuyện trường học chuyện gia đình… Tất nhiên những sáng tác đầu tay không thể đòi hỏi quá cao chúng giống như những trái cây muốn chín thì đầu tiên phải xanh. Thế nhưng những quả xanh này lại chưa thể chín! Hãy lấy tiêu biểu như thế hệ nhà văn trẻ sinh trong khoảng thập niên 70 của thế kỷ trước (thường được gọi là thế hệ 7x). Nổi bật nhất trong số đó có thể kể đến: Nguyễn Ngọc Tư với “âm hưởng đậm chất Nam bộ” Vũ Đình Giang Trần Nhã Thụy Nguyễn Danh Lam… trăn trở tìm kiếm sự cách tân cả về xây dựng tâm lý nhân vật cũng như thủ pháp văn chương Phan Hồn Nhiên Phong Điệp cố gắng tái hiện những người xung quanh cùng thế hệ Di Li đi vào những thể loại văn chương đặc thù… Mỗi nhà văn thế hệ 7x này đều có những thành công nhất định nhưng nếu bảo họ là những trái cây đã chín đem lại sự khởi sắc cho văn học trong nước có lẽ chẳng có nhà văn nào dám nhận.

Tại sao? Câu trả lời quen thuộc nhất mà tại nhiều hội thảo về văn học trẻ đã được nhắc đi nhắc lại là nhà văn trẻ không thể sống với đam mê. Có người bảo thế hệ nhà văn trẻ hiện nay có nhiều điều kiện hơn xưa cuộc sống tiện nghi hơn đầy đủ hơn. Thế nhưng có một nhà văn trẻ than thở: “Ngày xưa gian khổ nhưng rõ ràng anh có khiếu có năng lực viết văn ư vậy nhiệm vụ anh là viết đi. Chuyện khác có người khác lo. Còn bây giờ chẳng ai có thể toàn tâm toàn ý viết văn mà ngập đầu trong cơm áo gạo tiền. Văn chương chỉ còn là một trò chơi mà thôi”. Nhìn lại các nhà văn 7x không một ai có thể sống bằng tác phẩm của mình tất cả đều có một nghề chính văn chương chỉ là phần phụ nơi những khi thảnh thơi rảnh rỗi nhà văn mới tìm đến. Một tác phẩm viết cả năm được in thành sách thì nhuận bút cũng chỉ khoảng 10 triệu đồng trừ thuế chi phí mua sách tặng… nhà văn chẳng còn gì ngoài một kỷ niệm đẹp.

Người ta luôn nói trông chờ vào thế hệ 8x vốn được đánh giá là năng động thế nhưng thực tế các nhà văn thế hệ này bên cạnh việc còn non lại còn thêm một điều là “không muốn chín”. Rất nhiều bạn trẻ có năng lực viết đã tạo dấu ấn với một vài tác phẩm nhưng sau đó lại quay sang viết kịch bản phim! Một nhóm cùng viết cả bộ phim truyền hình vài chục tập kiếm vài trăm triệu chia ra cũng đủ sống mà còn không cực nhọc như viết sách. Thế hệ 8x thậm chí 9x cũng đã xuất hiện những cây bút mới nhưng hy vọng vào sự chín muồi của họ còn quá xa vời. 

* Tạo cú hích thế hệ trẻ

 Bàn về văn học trẻ người ta nhắc đến những khái niệm lớn lao như “hình mẫu giới trẻ hiện đại” “phản ánh xã hội hiện nay” “tiếp nối lịch sử”… Những nhà văn trẻ khi nghe những từ lớn lao này đều chỉ biết cười trừ. Ngay cả việc sáng tác về chính bản thân họ với những vấn đề xung quanh còn chưa rõ nét nói gì đến những vấn đề lớn lao như thế.

Có thời người ta trông mong thế hệ trẻ sẽ tiếp bước viết về lịch sử chiến tranh hào hùng của dân tộc. Thế hệ nhà văn chiến tranh có ưu điểm về chi tiết khi họ trực tiếp tham chiến. Thế hệ trẻ lại được xem là có ưu thế về cái nhìn tổng quát về độ lùi lịch sử cùng những tư liệu mới. Thế nhưng ngoài một số nhà văn trẻ trong quân đội hầu như rất hiếm hoi để có một nhà văn viết về lịch sử chiến tranh. Khoảng trống đó bây giờ vẫn không có dấu hiệu được lấp lại.

Cũng có lúc các nhà phê bình lại trông mong giới trẻ có thể viết về chính họ và những người thân quen xung quanh như những hình mẫu về con người trong xã hội mới. Thế nhưng xã hội mới lại phức tạp hơn rất nhiều những xã hội trước cuộc sống đa dạng hơn con người cũng đa dạng hơn. Nhà văn trẻ thiếu vốn sống không thể nào tổng hợp từ sự đa dạng đó thành những hình mẫu chung.

Nhà văn trẻ như những trái cây đợi chín với đầy hy vọng. Thế nhưng thực tế từ thế hệ “vừa hết trẻ” 7x đến thế hệ bùng nổ 8x hay thế hệ tương lai 9x văn học Việt Nam vẫn chưa thực sự có một nền văn học trẻ khởi sắc. Các giải thưởng văn học vẫn vắng bóng nhà văn trẻ. Làm thế nào để kích thích nhà văn trẻ “chịu chín”. Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đưa ra một giải pháp trực quan nhất: “Nhà văn trẻ không thể sống bằng sáng tác vậy hãy làm sao để họ có thể sống bằng sáng tác. Thay vì xé lẻ tổ chức hội thảo trại sáng tác này nọ hãy dồn hết vào giải thưởng một giải thưởng lên đến cả tỷ đồng sẽ là nguồn động lực mạnh mẽ cho nhà văn trẻ”.

Nhà văn Phan Hồn Nhiên đưa ra một cách khác: “Giải thưởng không hẳn là tiền nhiều mà chỉ cần danh tiếng. Nhà văn trẻ thiếu nhất chính là tên tuổi có tên tuổi sẽ giúp sáng tác sau này của họ dễ được chấp nhận hơn”. Còn nhiều giải pháp khác nữa tất cả chỉ nhằm một hy vọng hy vọng vào sự phát triển mạnh mẽ của văn học Việt Nam trong tương lai mà những thế hệ 7x 8x sẽ là cánh chim đầu đàn. 

( Nguồn: cinet )

More...

THƠ TÌNH Duyên hải miền Trung

By Gia đình Áo trắng

Thơ tình duyên hải miền Trung

          ( Danh sách các tác giả có bài được chọn )

 

LÊ ÂN (Bình Định) - CHONG CUỘC NGHÌN TRÙNG

TRẦN HUIỀN ÂN (Phú Yên) - THƯ VỀ DĨ AN ĐÔNG

ĐÀO DUY ANH (Bình Định) - ĐẤT HỨA

MAI BÁ ẤN (Quảng Nam) - LIỀU

HUỲNH HẢI ÂU (Bình Thuận) - NƠI DÒNG SÔNG KHÔNG HỘI TỤ

KIM BẰNG (Bình Thuận) -  NGANG TRỜI GIÓ BAY

PHẠM BÌNH (Bình Thuận) - CÒN ĐÓ SỢI THƯƠNG

PHƯƠNG BÌNH (Ninh Thuận) - VỘI CHI

NGUYỄN MẬU CHIẾN (Quảng Ngãi) - ĐOẢN KHÚC TÌNH ĐẦU

VŨ THỊ KIỀU CHINH (Ninh Thuận) - CHỚM ĐÔNG

NGUYỄN CƯỜNG (Quảng Nam) - RƯNG RƯNG MẮT ĐÁ  

TRẦN QUỐC CƯỠNG  (Phú Yên) - EM VÀ TÔI

TRẦM THỤY DU (Quảng Ngãi) - CHÚT TÌNH SƯƠNG KHÓI

TÔN  NỮ  THU  DUNG  (Khánh Hòa)  - KHÚC TẶNG DUNG ANH

PHẠM TẤN DŨNG (Quảng Nam) - TẠ VỚI THUNG XƯA

PHAN ANH DŨNG (Bình Thuận) - CÒN CHÚT HƯƠNG PHAI

TRẦN VIẾT DŨNG (Bình Định ) - MỘT CHUYẾN QUA ĐÈO

LÊ BÁ DUY (Bình Định) - NỬA VẦNG TRĂNG

TRẦN CAO DUYÊN (Quảng Ngãi) - RỒI SẼ ĐẾN THÁNG GIÊNG

NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO (Đà Nẵng) - NGƯỜI TÌNH VĂN KHOA

HÀ VĂN ĐẠO (Khánh Hòa) - VỚI EM

NGUYỄN THỊ ĐIỂM (Quảng Nam) - Thì thẦm

PHẠM ĐƯƠNG (Quảng Ngãi) - BIÊN TẬP

TRẦN VẠN GIÃ (Khánh Hòa) - GỞI  NHỮNG CON  ĐƯỜNG HOA

ĐOÀN HUY GIAO (Đà Nẵng) - DẠ KHÚC

NGUYỄN GIÚP (Quảng Nam) - RỒI EM SẼ VUI

NGUYỄN TẤN HẢI (Quảng Ngãi) - BỜ XƯA

NGUYỄN NGỌC HẠNH (Đà Nẵng) - CƠN MƠ HẠNH PHÚC

HÀ HUY HOÀNG (Quảng Ngãi) - CẢ YÊU

LÝ VĂN HIỀN (Quảng Ngãi) - NHỚ NGÀY XƯA

NGUYỄN HIỆP (Bình Thuận) - ĐÊM LỘC VỪNG

HUỲNH HIẾU (Phú Yên) - KHÔNG MƯA

HUỲNH DUY HIẾU (Phú Yên) - MỘT DÒNG LẶNG LẼ

NGUYỄN THỊ HỒNG (Phú Yên) - XUÂN PHAI

THU HỒNG (Phú Yên) - HƯƠNG MƠ

NGUYỄN MINH HÙNG (Đà Nẵng) - ÁNH TRĂNG

NGUYỄN KIM HUY (Đà Nẵng) - ĐIỀU GÌ MUỐN NÓI 

TRẦN HUY (Ninh Thuận) - EM KHÔNG VỀ PHỐ

BÙI NGUYÊN HƯ (Bình Thuận) - NGÀY MƯỜI BỐN THÁNG HAI

NGUYỄN NGỌC HƯNG (Quảng Ngãi) - THAO THỨC NGHIÊNG ĐÊM

DƯƠNG HOÀNG HỮU (Bình Thuận) - PHAN RÍ CÒN KHÔNG…

MA JOAN (Phú Yên) - GỬI ĐÔI MẮT LA HAI 

TRẦN HOA KHÁ (Bình Định) - GÓC PHỐ MÙA ĐÔNG

NGUYỄN NHO KHIÊM (Đà Nẵng) - Dáng Xưa

NGÔ ĐĂNG KHOA (Quảng Nam) - GIẤU

HỒ VIỆT KHUÊ (Bình Thuận) - NHỮNG TỜ THƯ CŨ

PHỤNG LAM (Đà Nẵng) - MƯỜNG TƯỢNG EM

ĐINH LĂNG  (Phú Yên) - TÌM LẠI MÙA ĐÔNG

NGÔ PHAN LƯU (Phú Yên) - XÔN XAO

LÊ KHÁNH MAI  (Khánh Hòa) - TỰ KHÚC CHIỀU

PHAN MINH MẪN (Đà Nẵng) - KHÔNG HẸN TRƯỚC MÙA THU

NGUYỄN NHƯ MÂY (Bình Thuận) - BÀI HÁT YÊU ĐỜI

NGUYỄN THANH MỪNG (Bình Định) - TÔ-NHI-A

HÀ MY (Bình Định) - Ừ!

TẤN MỸ (Bình Thuận) - TÌNH QUÊ

GIANG  NAM  (Khánh Hòa) - CHIỀU ẤY NGƯỜI ĐI

NGUYỄN ĐỨC NAM (Đà Nẵng) - LÒNG ĐÃ KHÉP THÌ EM GÕ CỬA

NGUYỄN HỒ NAM (Bình Thuận) - DƯỚI TÀN CÂY TRỨNG CÁ

TRẦN HÀ NAM (Bình Định) - THAY LỜI TỪ GIÃ

LÊ VĂN NGĂN (Bình Định) - LUÔN LUÔN CÒN VẺ ĐẸP

NGUYỄN KIM NGÂN  (Phú Yên) - CHIM YẾN ĐỎ

VÕ KIM NGÂN (Đà Nẵng) - CÔ ĐƠN

LÊ TRỌNG NGHĨA (Bình Định) - BỨC TƯỢNG TRONG NỖI VẮNG

TÔ NGHĨA (Ninh Thuận) - MƯA CHIỀU

TRẦN VĂN NGHĨA (Ninh Thuận) - LỐI VỀ CƯ XÁ KHI XƯA...

THÁI SƠN NGỌC (Ninh Thuận) - CHIỀU THÁP CỔ

NGUYỄN MAN NHIÊN  (Khánh Hòa) - BÀI THƠ NHỎ VỀ TÌNH YÊU

NGUYỄN GIA NÙNG  (Khánh Hòa) - NỬA VỜI

VƯƠNG PHONG (Ninh Thuận) - HƯƠNG THU

ĐINH TẤN PHƯỚC (Quảng Ngãi) - CHIỀU BIỂN BẮC

MAI HỮU PHƯỚC (Đà Nẵng) - GÓC PHỐ

HỒ NGHĨA PHƯƠNG (Quảng Ngãi) - TIỄN THU MƯA

PHẠM VĂN PHƯƠNG (Bình Định ) - MƯA CHIỀU TÂY SƠN THƯỢNG

HÀ QUẢNG (Quảng Ngãi) - ẨN HIỆN

HUỲNH VĂN QUỐC (Phú Yên) - GÁC CHUYỆN PHÂN VÂN

CAO NHẬT QUYÊN  (Khánh Hòa) - CÓ PHẢI EM VỀ

HOÀNG QUYÊN (Đà Nẵng) - ƯỚC CHI ĐIỀU VĨNH CỬU

LÊ SA (Ninh Thuận) - XIN EM CHÚT TÌNH GẦN

PHẠM PHÙ SA (Quảng Nam) - VỀ PHÍA MỘNG DU

NGUYỄN TẤN SĨ (Quảng Nam) - CHIỀU ẨN MÌNH GỌI XUÂN

NGUYỄN ĐÌNH SINH (Bình Định) - ĐỢI

QUỐC SINH  (Khánh Hòa) - ỐM

ĐẶNG THIÊN SƠN (Bình Định) - CHIỀU NOEL

NGUYỄN BẮC SƠN (Bình Thuận) - VIẾT CHO NGƯỜI THỤC NỮ

HOÀNG CÔNG TÂM (Ninh Thuận) - BẤT CHỢT

HUỲNH MINH TÂM (Quảng Nam) - NHỮNG NGÔI SAO TÌNH YÊU

TÔ DUY THẠCH (Bình Thuận) - NỖI BUỒN XANH TRÊN VAI TƯỢNG TRẮNG

ĐÀO QUÝ THẠNH (Bình Định) - NHẶT PHÍA KHÔNG NGƯỜI

HUỲNH THẠCH THẢO (Phú Yên) - LÂU ĐÀI TRÊN CÁT

TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG (Đà Nẵng) - CÓ MỘT NỔI BUỒN

ĐỖ THƯỢNG THẾ (Quảng Nam) - LÚC BẮT ĐẦU MƯA

TRẦN YÊN THẾ (Bình Thuận) - CON GÁI NGÀY XUÂN

MẠC TRƯỜNG THIÊN (Quảng Ngãi) - RU TÌNH NGỦ YÊN

MAI THÌN (Bình Định) - THIÊN ĐƯỜNG THƠM RÈM CỬA NHÀ MÌNH HAY LÀ…

LỆ THU (Bình Định) - HƯƠNG GỬI LẠI

PHẠM DẠ THỦY  (Khánh Hòa) - DÁNG XƯA

PHAN BÙI BẢO THY (Đà Nẵng) - HUYỀN THOẠI BUỔI CHIỀU XANH

NGUYỄN NHÃ TIÊN (Đà Nẵng) - NỖI BUỒN XANH

LÊ HƯNG TIẾN (Ninh Thuận) - CÔ BÉ VÀ NHỮNG NGƯỜI LẠ

PHÙNG TIẾT  (Khánh Hòa) - NGƯỜI MỚI ĐẾN

NGÔ THỊ THỤC TRANG (Quảng Nam) - CẢM XÚC MƯA

TRẦN THỊ HUYỀN TRANG (Bình Định) - NHỮNG BÔNG HOA TRẮNG MUỐT

NGUYỄN QUANG TRẦN (Quảng Ngãi) - GỬI NGƯỜI EM GÁI XA QUÊ

BÙI THỊ NGỌC TRINH (Bình Thuận) - GIẤU

LA TRUNG (Quảng Nam) - CHƯNG TÌNH

LẠI ĐỨC TRUNG (Bình Định) - SƠ RI

ĐÀO TẤN TRỰC (Phú Yên) - VIẾT TRONG NGÀY EM ĐI

KHUÊ VIỆT TRƯỜNG (Nha Trang) - EM ĐỨNG CHỖ NÀO TRONG CUỘC                                      ĐỜI TÔI?

LA VĂN TUÂN (Bình Thuận) - CON LẮC THỜI GIAN

ĐÀO ĐỨC TUẤN (Phú Yên) - NẪU

NGÔ VĂN TUẤN (Bình Thuận) - TÌM XƯA

PHAN ANH TUẤN (Bình Thuận) - VÍ DỤ

BÙI HUYỀN TƯƠNG (Quảng Ngãi) - NẺO XƯA

PHẠM QUỐC TÝ (Ninh Thuận) - ƯỚC CHI LÀ NGỌN GIÓ

TRẦN CHẤN UY  (Khánh Hòa) - KHÁT VỌNG

NGUYỄN TƯỜNG VĂN (Phú Yên) - GẶP LẠI NGƯỜI XƯA

PHẠM THỊ THÙY VÂN (Quảng Ngãi) - CHỢ TÌNH

MAI VIỆT (Bình Thuận) - VÂN

TẠ HÙNG VIỆT (Khánh Hòa) - BẾN LÀNG

NGÂN VỊNH (Đà Nẵng) - GIÓ ĐÀN ÔNG

HUỲNH HỮU VÕ (Bình Thuận) - NGÀY EM THI HOA HẬU

ĐÀI NGUYÊN VU (Bình Thuận) - LINH

ĐINH LÊ VŨ (Đà Nẵng) - TƯỞNG NIỆM

ĐOÀN VŨ (Bình Thuận) - DÁNG XƯA

NGUYỄN THANH XUÂN (Bình Định) - MƯA BỤI Ở BỒNG SƠN

TÔN NỮ THANH YÊN  (Khánh Hòa) - NỖI NHỚ

 

        Tập thơ sẽ được tổ chức ra mắt vào 15h ngáy 16/4/2011

                            tại Tp. Tuy Hòa tỉnh Phú Yên.

More...

Tài năng trẻ cần được nâng đỡ

By Gia đình Áo trắng

alt

TÀI NĂNG TRẺ CẦN ĐƯỢC NÂNG ĐỠ

* Tự bạch của VALENTIN RASPUTIN

Các bạn thân mến! Khi được khen tôi già đi rất nhanh. Đã nhiều lần tôi nhận ra điều đó. Sau đấy một thời gian người ta lại bắt đầu chê tôi và tôi lại cảm thấy  phấn chấn trở nên khỏe khoắn hơn dáng đi thay đổi chữ nghĩa tự nhiên bật ra. Vì vậy đối với tôi tốt nhất là được sống trong những hoàn cảnh nếu không phải cực đoan thì cũng thật khó khăn.

Phải nói rằng tôi gặp may trong cuộc đời. Điều này không có gì phóng đại. Tôi gặp may vì đã sinh ra trước chiến tranh mấy năm và đã cùng với  mọi người trải qua tất cả những khó khăn gian khổ. Điều này với tôi rất cần thiết với tư cách một nhà văn. Các ông bố của chúng tôi ra trận hết ở hậu phương chỉ còn lại phụ nữ và trẻ con. Nhưng một thiếu niên như tôi thì làm được gì? Buộc phải lao động làm việc không bằng mọi người tất nhiên nhưng tuỳ theo sức của mình. Nếu không làm sao sống sót. Nếu như tôi chạy ra sông Angara thì là để câu cá và chúng tôi đã câu được rất nhiều. Chúng tôi thường sống bằng những con cá đó. Hơn nữa bên cạnh là rừng Taiga. Và chúng tôi thường đến đó không phải để ngắm cảnh mà là để hái quả nấm hạt dẻ hành gấu. Tất cả những thứ đó cần cho sự sống.

Làng tôi không lớn lắm vào thời chiến trong làng không có một mống đàn ông nào. Cả làng được cứu sống nhờ mọi người biết đồng cam cộng khổ. Ai thiếu bánh mỳ - thì tìm thấy ở nhà hàng xóm mọi người sống được quả thật  là nhờ nương tựa vào nhau. Tôi nhớ khi những người lính bắt đầu từ mặt trận trở về (bố tôi về muộn hơn vào cuối năm) lần nào họ cũng đến tất cả các nhà và mỗi người trong chúng tôi đều được biếu khi thì cái bánh quế khi thì khúc bánh mỳ khi thì một món quà nào đấy. Chính sự cộng sinh đó trong công việc trong cuộc sống và cả trong niềm vui đã nuôi dưỡng chúng tôi. Tôi không muốn lý tưởng hoá nhân dân có nhiều chuyện xảy ra nhưng cái tai họa chung vào những năm đó đã gắn bó chúng tôi. Và sau này khi đi học phổ thông ở Ust-Ilimsk 4 năm liền tôi đã tá túc trong nhà bạn bè. Tôi được nuôi ăn như các bạn mình. Lúc ở nhà bạn này lúc ở nhà bạn khác và điều này cũng không thể nào quên. Quả thật mọi người đã sống như một gia đình. Vào những kỳ nghỉ hè khi về thăm quê cách đó 50 cây số tôi có thể ghé vào bất cứ nhà nào tôi được mời uống nước ăn bánh. Phải chăng có thể so sánh với những gì đang diễn ra hôm nay? Tính cộng đồng sự tương trợ lẫn nhau lương tâm con người - tất cả đã giúp chúng tôi sống sót. Tôi đã viết về tuổi thơ của mình trong truyện ngắn “Những bài học tiếng Pháp”. Tất nhiên có hư cấu cô giáo trong truyện không đánh bạc với tôi nhưng cô quả thật có gửi cho tôi những gói mỳ ống. Tôi đã sống bằng số mỳ đó. Khi tôi bắt đầu viết truyện ngắn chỉ riêng mỳ ống không đủ cho cốt truyện nên tôi buộc phải hư cấu thêm. Và lúc bấy giờ cả làng sống như vậy tôi nghĩ rằng cả nước Nga nông dân đã sống như vậy. Nhưng  sau này tất cả những cái đó đã biến đâu mất? Bây giờ bạn đi về làng quê của mình nó vẫn nghèo như xưa nhưng không còn sự chở che đùm bọc của mọi người nữa. Ban đầu khi những người đàn ông trở về một lâm trường đã được thành lập mọi người nhận được nhiều tiền uống nhiều rượu vodka. Họ đối xử với nhau ngày càng tệ. Tôi đã viết về điều này trong truyện vừa “Đám cháy”. Cũng về quê hương thân thuộc nhưng đã trở nên xa lạ biết bao! Tất cả những gì tốt đẹp đã bay đi đâu cả rồi. Tôi không nói rằng cần phải sống nghèo khổ. Mặc dù cái nghèo giúp con người gắn bó   trong nghèo khổ  con  người dễ nương tựa vào nhau để sống sót hơn. Cái nghèo giúp con người sống trong sạch hơn. Sự giàu có thường làm hư hỏng con người.

Tôi nghĩ rằng thế hệ tôi gặp may chính vì đã trải qua những khó khăn và sự nương tựa vào nhau để sinh tồn. Mọi người đều mừng cho nhau. Theo quan điểm của tôi người dân Nga những năm 60 của thế kỷ trước đã sống như vậy nhưng đến cuối thời kỳ Xôviết thì mọi thứ đã dần dần thay đổi. Ai cũng bắt đầu tìm cách sống tốt hơn. Ai cũng muốn  giành lấy mẩu bánh mì nhỉnh hơn.

Đối với tôi một nhà văn hạnh phúc nhất là những năm 70. Và đối với nhiều người khác của thế hệ tôi cũng vậy. Hiện nay khi bắt đầu viết văn các bạn trẻ thường đưa bản thảo của mình cho các nhà văn nổi tiếng mà họ thì khi đọc khi không. Còn lúc bấy giờ có những seminar dành cho các nhà văn trẻ chúng được tổ chức thường xuyên. Năm 1965 tôi đến thành phố Chita và tham gia seminar của nhà văn Vladimir Chivilikhin. Tôi cho rằng mình gặp may. Đó là một may mắn lớn. Nếu gặp một người khác chứ không phải Chivilikhin có thể tôi không được may mắn như vậy nhưng dù sao cũng không thể thất bại. Các nhà văn trẻ lúc bấy giờ được đối xử khác hẳn. Chivilikhin biết rằng đã đến thời của những người trẻ tuổi   rằng có nhiều người tài năng. Sau seminar ở Chita năm sau một seminar như vậy dành cho các nhà văn trẻ lại được tổ chức ở Kemerovo sau đấy thêm nữa thêm nữa.

Từ các seminar đó chúng tôi đồng hành vào văn học: Aleksandr Vampilov Gennady Mashkin Viktor Likhonosov Viktor Potanin và tôi. Quả thật đó là một thế hệ mạnh. Và chúng tôi sống sót dễ hơn vì có người bảo vệ chúng tôi. Đến sớm hơn một chút có Vasily Belov. Vasily Shukshin xuất hiện như một cỗ xe tự hành từ bên ngoài khi đã là một diễn viên điện ảnh nổi tiếng và ngay tức khắc trở thành nhà văn nổi tiếng. Cũng cần lưu ý rằng những người anh cả của chúng tôi như Evgeny Nosov Viktor Astafyev Fyodor Abramov – ngay lập tức nhận bảo lãnh chúng tôi điều đó giúp chúng tôi dang rộng đôi cánh. Các nhà văn một thời mặc áo lính  đó đã nâng đỡ chúng tôi trong văn học. Và chúng tôi cảm nhận được tính cộng đồng của các nhà văn. Còn nhớ khi tôi viết truyện vừa “Sống mà nhớ lấy” Viktor Petrovich Astafyev  thậm chí còn hoảng hốt sợ tôi sẽ bị đánh. Và ông xung phong viết lời tựa cho lần “Sống và nhớ lấy” được đăng trên tạp chí “Roman-Gazeta”; nói rằng cuốn sách không có gì xấu không hề có sự biện minh cho hành động đào ngũ mà  ở  đây chúng ta cần nhìn vào số phận của người phụ nữ. Và quả thật có thể nhờ được bảo vệ như vậy nên đã  không có sự phê phán quở trách nào xảy ra. Tác phẩm ra đời một cách trót lọt thế thôi. Còn hai năm sau khi viết xong truyện vừa “Vĩnh biệt Matyora” tôi mang bản thảo đến toà soạn tạp chí “Người đương thời của chúng ta” và ngay lập tức lên đường  dự hội chợ sách Frankfurt hoàn toàn yên tâm rằng mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Nhưng khi trở về tôi nghe nói rằng kiểm duyệt không cho đăng. Tất nhiên là rất khó chịu nhưng tôi vẫn bình tĩnh đón nhận điều đó và tự tin. Thế rôi tôi biết rằng Yury Vasilyevich Bondarev khẩn trương triệu tập một cuộc họp của Ban thư ký Hội Nhà văn và gần như ra lệnh cho các uỷ viên trong hai ngày phải đọc xong cái truyện vừa vốn khá dài này để phát biểu ý kiến. Rồi ngay lúc đó trước mặt tất cả mọi người ông gọi điện thoại lên Ban chấp hành trung ương Đảng và nói: “Ban thư ký Hội Nhà văn cho rằng cần phải khẩn trương đăng truyện vừa “Vĩnh biệt Matyora” trong đó không có gì xấu”. Có thể còn có nhiều cuộc thương lượng nữa tôi không nhớ hết nhưng tác phẩm đã được xuất bản kịp thời trong số tháng 10 theo đúng kế hoạch.

Hiện nay người  ta nói: áp lực của kiểm duyệt áp lực của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng  sản Liên Xô. Nhưng xin  hỏi: liệu các nhà văn có nhiều tác phẩm chưa công bố đang nằm trong ngăn kéo không? Và phải chăng nền văn học hiện nay trở nên mạnh mẽ hơn?  Sau khi truyện vừa “Vĩnh biệt Matyora” được công bố vào mùa xuân từ Irkutsk tôi được mời đến gặp đồng chí Zimyanin bí thư Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Liên Xô và bạn hãy nhìn xem các nhà lãnh đạo cao nhất lúc bấy giờ đối xử với nhà văn như thế nào không phải như bây giờ. Zimyanin đích thân mời tôi đến Moskva tới trụ sở Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Liên Xô để giãi bày với tôi. Ở đâu đấy tại một diễn đàn cao cấp  nào đấy ông đã phát biểu rằng không thích truyện vừa này. Rằng ông không hài lòng với thái độ hoài nghi sự tiến bộ của tôi. Zimyanin cảm thấy áy náy vì đã phê phán sau lưng tôi nên  quyết định trao đổi  trực tiếp với tôi. Chúng tôi trò chuyện gần một giờ đồng hồ. Và cuối cùng ông nói rằng vẫn bảo lưu ý kiến của mình. Vẫn như trước ông không thích truyện vừa của tôi nhưng ngay lúc đó ông bổ sung: tôi sẽ không ngăn cản. Và quả thật ông không bao giờ ngăn cản. Truyện vừa được xuất bản với tira lớn tại nhà xuất bản “Cận vệ trẻ”.

Xin nói thật nhiều độc giả của tôi trong giới xuất bản và văn học hy vọng  tôi được tặng giải thưởng nhà nước năm 1976 với tác phẩm này bởi truyện vừa “Sống mà nhớ lấy” không hoàn toàn thích hợp với việc giới thiệu ra tranh giải. Nhưng vì lãnh đạo không hài lòng với “Vĩnh biệt Matyora” nên người ta quyết định tặng giải thưởng nhà nước Liên Xô cho “Sống mà nhớ lấy”. Bạn thấy đấy   không cách này thì cách khác dù sao tôi cũng đã đạt được nguyện vọng của mình.

Tôi cảm thấy vào những năm 70 của thế kỷ trước có một bầu không khí trong lành nào đó trong văn học. Không phải mọi chuyện  hoàn toàn êm đẹp nhưng dù sao công việc sáng tác lúc bấy giờ dễ chịu và thoải mái. Và không phải một mình tôi cảm thấy như vậy. Trong những năm đó đã xuất hiện nhiều tác phẩm có giá trị. Lúc bấy giờ chúng tôi vui mừng cho thành công của nhau biết bao. Tôi cảm thấy rằng hiện nay các nhà văn không có được niềm vui đó các nhà văn trẻ lại càng hay đố kỵ nhau hơn. Còn chúng tôi thực sự thán phục thành công của nhau những Viktor Potanin Vasily Belov Viktor Likhonosov. Và mọi người viết thư cho nhau. Chúng tôi công khai ủng hộ  nhau. Còn chúng ta hiện nay thậm chí viết thư cho nhau cũng lười…
Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang.  Chẳng bao lâu bắt đầu giai đoạn trì trệ. Mà nhân dân quả là chưa được chuẩn bị tinh thần để đương đầu với điều đó. Và theo tôi ở đây một phần có lỗi của các cấp chính quyền. Một thời gian dài họ đã phớt lờ toàn bộ lịch sử nứơc Nga bỏ quên các nhà sử học nổi tiếng của chúng ta. Còn nhớ sau đấy chúng tôi đã gặp nhau lại tại Uỷ ban xuất bản và đề nghị tạm thời hoãn việc in sách của các nhà văn để xuất bản các công trình về lịch sử của Solovyev Kluychevsky Kostomarov và những người khác. Nhân dân không biết đến lịch sử hào hùng của mình. Có thể nếu như vào những năm đó người dân được đọc hàng triệu bản sách thì  có thể họ đã khác   đã xử sự cách khác khi đi vào cuộc cải tổ. Hiện nay chúng ta thật khó hình dung  nổi vì  sao chúng ta lại có thể lãng quên lịch sử của chính mình?
Có thể nói gì về những năm 90 của thế kỷ trước…Trong bối cảnh đất nước bị sụp đổ ít ai tìm thấy niềm vui và vì thế nền văn học không tiến triển. Các nhà văn chỉ viết  chính luận. Hiện nay tôi cũng đang chuẩn bị xuất bản cuốn văn chính luận của mình tại nhà xuất bản Safonov ở Sibir.

Tôi sẽ làm gì tiếp theo ư? Dù sao tôi cũng đã ngoài 70 tuổi. Thời gian không còn nhiều nữa. Nhưng tôi sẽ không im lặng. Văn chính luận tất nhiên tôi sẽ viết. Cố gắng viết cả văn xuôi. Mặc dù viết lách bây giờ ngày càng khó khăn hơn. Tôi tự an ủi bằng việc quan sát các nhà văn cổ điển: lấy ví dụ Turgenev – rõ ràng những tác phẩm cuối đời của ông được viết bởi một bàn tay không tự tin như hồi trẻ. Thậm chí cũng có thể nói như vậy về Lev Tolstoy. Còn Dostoyevsky thì không sống thọ. Nhưng tôi có cảm giác với Dostoyevsky điều đó có thể sẽ không xảy ra. Nhiều nhà văn mệt mỏi khi về già. Cây bút trong tay họ trở nên bất lực. Tôi không muốn đẩy sự việc tới tình trạng đó. Hễ phát hiện ra mình đuối sức là cần phải nói dứt khoát rằng: thôi đủ. Có thể viết hồi ký cho con cháu mình đọc. Nhưng dù sao tôi vẫn hy vọng mình còn viết được một cái gì đấy.
Hy vọng rằng sẽ xuất hiện những nhà văn Nga tài năng những nhà văn nhân dân tầm cỡ Evgeny Nosov hay Vasily Shukshin. Không thể nào khác được. Và để có được điều đó  cần phải viết sao để nhân dân thừa nhận đó là nền văn học của mình gẫn gũi đến mức không thể xa rời. Và lúc bấy giờ văn học chúng ta mới có thể lấy lại cả phẩm giá của mình lẫn sức mạnh đạo đức và tầm ảnh hưởng đối với nhân dân.

TRẦN HẬU   (Theo Báo Ngày mai)

More...

Cách tân nghệ thuật và thơ trẻ đương đại

By Gia đình Áo trắng

alt

CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT VÀ THƠ  TRẺ ĐƯƠNG ĐẠI

* PGS.TS. Lưu Khánh Thơ  

   Công cuộc đổi mới (1986) đã đem đến cho văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng những đổi thay rất lớn trong việc khám phá và phản ánh hiện thực - hiện thực đời sống hiện thực tâm trạng. Khái niệm đổi mới là một tiêu chí được đề cao trong xã hội ngày nay. Để có sự vận động và phát triển thơ cũng không nằm ngoài quy luật đó. Lớp trẻ xuất hiện sau 1975 đặc biệt là từ sau năm 1985 chiếm số lượng rất đông đảo tạo thành một mặt bằng mới rộng rãi cho sự phát triển của thơ hôm nay. Hơn nửa số thơ đã xuất bản là của các tác giả thuộc thế hệ này. Điểm nổi bật ở các sáng tác của họ là sự đa dạng trẻ trung tươi mới và giàu chất trí tuệ. Nhiều người quan tâm đến thơ cho rằng trong thời gian tới một tiếng thơ có sự thay đổi thực sự về nội dung và giọng điệu sẽ thuộc về lớp các nhà thơ trẻ này. Họ thực sự là những người làm chủ thi đàn đương đại.

   Đội ngũ đông đảo đây đó có những tác giả có phong cách và giọng điệu riêng nhưng chọn ra được một vài tác giả nổi bật được giới nghiên cứu phê bình và người đọc công nhận đồng thuận trong đánh giá là điều không phải dễ. Còn rất nhiều điều phải bàn bạc tranh luận nhưng đi vào thực tiễn của đời sống thơ ca vẫn thấy có sự vận động trong chiều sâu của nó. Có thể thấy rằng thơ trẻ đang cố gắng để khác các thế hệ đi trước. Cái mạnh của lớp trẻ hôm nay là họ đang tạo ra một không khí dân chủ trên thi đàn với nhiều giọng điệu nhiều khuynh hướng. Họ được tự do trong cảm xúc trong các cách thể hiện. Hầu như đối với họ không có điều gì là cấm kỵ không có điều gì phải né tránh. Dễ nhận thấy một điều rằng những người làm thơ trẻ hôm nay hướng sự chú ý của mình vào việc khai thác tâm trạng cá nhân. Họ tinh tế nhạy bén với những cảm xúc riêng tư đơn lẻ nhưng ít  khi mở ra vươn tới những vấn đề xã hội rộng lớn. Những vấn đề quan thiết của đời sống cộng đồng ít có tác động đến những bài thơ của họ. Nhìn vào những người làm thơ trẻ hôm nay thấy rõ một điều là họ đang cố gắng tìm cách phô diễn những xúc cảm của mình bằng những hình thức nghệ thuật có nhiều tìm tòi đổi mới.

      Nhìn lại những cuộc lên đường trong tiến trình thơ  Việt Nam hiện đại chúng ta nhận thấy vai trò  to lớn của những người trẻ. Ở những người viết trẻ thường tiềm ẩn một sức bật lớn một khả năng dồi dào trong sự tiếp cận và sáng tạo cái mới. Khi văn học bước vào guồng quay hội nhập thế giới khi những trào lưu văn học của nước ngoài có sự giao lưu với văn học trong nước thì người viết trẻ bao giờ cũng là người tiếp cận nhanh nhất. Ngoài tác động của yếu tố thời đại họ còn là lớp người năng động sáng tạo thích tìm tòi khám phá những điều mới lạ. Sự tham gia của các cây bút trẻ vào cuộc chơi mạo hiểm này khiến người ta có thể nghĩ nhiều hơn tới triển vọng của thơ đương đại. Chính kinh nghiệm từ phong trào Thơ mới đã cho chúng ta bài học: để tạo một cuộc cách mạng trong thi ca cần trông chờ vào những người trẻ tuổi. Ta có thể nhận ra sự tương ứng trong quá trình vận động của Thơ mới và thơ hôm nay. Người đầu tiên đột phá vào bức tường thành của thơ cũ là Phan Khôi với thi phẩm Tình già - một người đã ở độ tuổi trung niên gốc nhà Nho nhưng đem đến cho Thơ mới sự chiến thắng thật sự lại là những trí thức Tây học còn rất trẻ như: Chế Lan Viên (17 tuổi xuất bản Điêu tàn) Xuân Diệu (22 tuổi đã có Thơ thơ) Huy Cận (21 tuổi có Lửa thiêng) Nguyễn Bính (22 tuổi có Lỡ bước sang ngang)… và liệu có thể kì vọng vào các nhà thơ trẻ hiện nay sẽ là người đi đến đích trong phong trào thơ mới?

      Mỗi một nỗ lực cách tân đều có cơ sở  triết học mỹ học riêng của nó  được thể  hiện ở những quan niệm và phương thức biểu hiện của mỗi cá nhân. Thơ Việt Nam đã có  nhiều nỗ lực cách tân với nhiều khuynh hướng. Thơ  mới trước đây ảnh hưởng từ thơ ca lãng mạn tượng trưng Pháp đã tạo ra cuộc cách mạng thơ ca vượt ra khỏi những sáo mòn khuôn thước truyền thống. Thơ trẻ hôm nay cũng với mong muốn bứt phá khỏi những giá trị truyền thống đã tiếp thu ảnh hưởng từ những trường phái khuynh hướng khác nhau: Chủ nghĩa Tượng trưng siêu thực Chủ nghĩa Hiện sinh Chủ nghĩa Hình thức Chủ nghĩa Hậu hiện đại và gần đây nhất là chủ nghĩa Tân Hình thức. Song dù theo trường phái khuynh hướng nào thì chúng ta cũng nhận thấy một xu thế đang ngày càng được khẳng định và mở rộng trong thơ Việt Nam đương đại là tính hiện đại. Khái niệm tính hiện đại thường đưa đến sự nhầm lẫn và ngộ nhận về hướng đi của thơ ca trong thời đại mới. Một bên là hướng đi tìm tòi sáng tạo nhằm tạo ra những phẩm chất mới cho thơ phản ánh được đầy đủ cái mới trong cuộc sống hiện tại. Một bên là khuynh hướng “phản thơ” mượn danh nghĩa sáng tạo để khởi xướng những lý thuyết kì quái cực đoan xa lạ với thơ ca và thị hiếu thẩm mĩ lành mạnh. Tính hiện đại trong thơ khác về bản chất với chủ nghĩa hiện đại trong thơ. Từ “hiện đại” chúng ta quen dùng dường như để chỉ khái niệm thời gian hơn là khái niệm chủ nghĩa. Tính hiện đại trong thơ Việt trẻ thể hiện ở ý thức sáng tạo và tinh thần thể nghiệm. Ý thức sáng tạo giúp các nhà thơ trẻ tránh được những lối mòn khuôn sáo và ý thức hơn về bản chất sáng tạo của mình. Mỗi nhà thơ đều cố gắng khai phá những vùng đất riêng.

      Sáng tạo nghệ thuật nói chung thơ ca nói riêng luôn vận động không ngừng nghỉ. Sự chuyển động ấy chính là lẽ sống của nghệ thuật. Mỗi sự chuyển động biến thiên của văn hóa đều có động lực của nó. Trong văn học Việt Nam có thể quan sát thấy dấu ấn của Chủ nghĩa hiện đại từ trước 1945. Trong một số sáng tác của Hàn Mặc Tử Bích Khê nhóm Xuân Thu Nhã Tập nhóm Dạ đài… đã xuất hiện các yếu tố của Chủ nghĩa tượng trưng siêu thực. Song những biến động lịch sử đã không tạo điều kiện cho những thể nghiệm đó được phát triển tự nhiên khiến cho những dấu hiệu của chủ nghĩa hiện đại trong Thơ mới chưa trở thành một khuynh hướng. Mặc dù bị đứt đoạn nhưng cái hướng đi ấy vẫn có một mạch ngầm kết nối trong lịch sử thơ ca. Đến thời kì đổi mới những dấu hiệu này đã xuất hiện trở lại mạnh mẽ hơn. Các trào lưu khuynh hướng của chủ nghĩa hiện đại được thể hiện trong thơ hiện nay phần nhiều không còn ở dạng “nguyên bản” như khi xuất hiện ở phương Tây mà đã bị “phá vỡ”.

      Những năm đầu sau đổi mới 1986 những thể nghiệm cách tân hay khuynh hướng hiện đại hóa thơ ca vẫn chưa thu hút được nhiều cây bút tham gia. Hầu hết các cây bút vẫn tiếp nối mạch thi pháp truyền thống và mới chỉ có một nhóm nhỏ quyết tâm đổi mới thơ mạnh mẽ. Một số cây bút đã nỗ lực phá vỡ hệ thống qui phạm chi phối văn học suốt 30 năm chiến tranh thậm chí còn tiếp tục ảnh hưởng đến văn học những năm sau đó như một quán tính. Có nhà nghiên cứu gọi đó là quá trình “phi sử thi hóa” văn học. Khuynh hướng này đưa văn học thâm nhập sâu hơn vào những khía cạnh bộn bề và phức tạp của đời sống và tinh thần con người đặc biệt ở những vấn đề của con người cá nhân. Sự xuất hiện của những thể nghiệm phá cách mang tính tự giác trong thơ hiện nay báo hiệu những nguyên tắc thi pháp cũ cho đến giờ vẫn chi phối dòng chủ lưu của thơ ca đương đại đã đến lúc cần bị phủ định vị thế độc tôn của nó.

      Các tác giả của xu hướng cách tân thơ hiện nay có  thể chia làm hai nhóm: nhóm thứ nhất là những cây bút đã có quá trình sáng tác từ trước 1975 như: Hoàng Cầm Lê Đạt Trần Dần Đặng Đình Hưng Dương Tường Hoàng Hưng … Họ được coi là những người đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện của một dòng thơ mới gây nhiều tranh cãi. Phần lớn tác phẩm của họ được sáng tác khá lâu trước thời kì đổi mới. Những tác phẩm mang dấu ấn siêu thực của Hoàng Cầm ra đời từ đầu những năm 60 (Lá diêu bông Mưa thuận thành Về Kinh Bắc…); Trần Dần viết Mùa sạch khoảng năm 1964 – 1965; Lê Đạt viết các bài thơ mang dấu ấn hậu hiện đại từ những năm 70 sau này được in trong tập 36 bài tình Bóng chữ… Những tác giả tác phẩm này đã trở thành tiêu điểm cho những cuộc tranh luận sôi nổi đầu tiên về thơ hiện đại vào khoảng những năm từ 1993 đến 1995. Nhóm thứ hai là những cây bút xuất hiện và trưởng thành sau 1975 như: Nguyễn Quang Thiều Dương Kiều Minh Nguyễn Lương Ngọc Mai Văn Phấn Trần Anh Thái Nguyễn Quyến Dư Thị Hoàn Tuyết Nga Trần Quang Đạo Đặng Huy Giang … Sau đó những cây bút đương đại được nhắc đến nhiều nhất có thể kể đến: Vi Thuỳ Linh Phan Huyền Thư Ly Hoàng Ly Văn Cầm Hải Nguyễn Hữu Hồng Minh Lê Vĩnh Tài Nguyễn Vĩnh Tiến Trương Quế Chi … Hầu hết các tác giả này còn rất trẻ khoảng trên dưới 20 tuổi vào thời điểm họ xuất bản các tập thơ đầu tay của mình. Quan sát trên thi đàn Việt những năm gần đây có thể thấy các tác giả trẻ đang khao khát thể hiện tiếng nói của thế hệ mình như một giá trị. Giá trị ấy được đảm bảo bằng cái mới cái hiện đại trong quan niệm về thơ trong giọng điệu bút pháp hình thức thể hiện… Dù có thể những tìm tòi cách tân chưa trở thành xu hướng chủ đạo chưa dễ tìm được sự đồng thuận trong đánh giá và tiếp nhận của người đọc nhưng vẫn có thể cảm nhận được một nguồn sinh lực mới đang tiềm ẩn trong thơ hiện nay.

      Tuyển tập 26 nhà thơ Việt Nam đương đại (Nxb. Hội Nhà văn 2002) đã cho thấy một thực tế rằng hầu hết các nhà thơ đang nỗ lực cách tân đi tìm cái mới lạ thay đổi những biểu tượng thơ ca cũ để xây dựng một “chủ nghĩa trữ tình” mới. Tìm đến cái mới là khát vọng của bất cứ người nghệ sĩ nào. Đó vừa là khát vọng vừa là thử thách đặt ra cho các nhà thơ trên con đường sáng tạo. Thời gian và công chúng sẽ là những thước đo công bằng và đúng đắn nhất. Cái mới thực sự từ nội tại của một nền thơ thông qua quá trình tiếp biến kế thừa và phủ định. Thơ ca luôn luôn cần một cuộc “cách mạng” mới do chính những con người của thế hệ mới thực hiện nhằm tạo ra một thời kì mới mang hơi thở của thời đại mới.

 L.K.T

( Nguồn: Văn nghệ Trẻ )

More...

Thơ XUÂN 2011

By Gia đình Áo trắng

 

* TỪ KẾ TƯỜNG  (Tp.HCM)

Ngày mai vàng

cánh bướm


Đêm rất thơm ngoài kia
Một khu vườn hoa trái
Cành lộc em mang về
Xanh biếc thời thơ dại.


Anh thơm những ngón tay
Nồng nàn khi rẽ tóc
Em xuống bến sông đầy
Dấu chân còn trên dốc.


Đường cỏ chuồn chuồn xanh
Uống mưa thơm vỗ cánh
Anh vuốt mây tóc mình
Để bờ vai nghiêng nắng.


Lối nhỏ nụ cười quen
Mắt xưa còn lúng liếng
Giật mình ngỡ rằng quên
Mới hay hình bóng hiện.


Mùa thơm chín trên đồi
Ngày mai vàng cánh bướm
Áo bụi giũ bên trời
Anh về chiều mây tím.


Đêm thơm vạt tóc em
Tuổi xuân thì mới chớm
Anh thơm lên môi mềm
Nụ tình yêu vừa lớn.


T.K.T



* NGÀN THƯƠNG
( Huế )

Nhịp võng xuân


Mưa bụi rắc quyện hơi sương thành Huế
Lạnh qua vai chùng xuống tháng ngày
Chút hoài niệm chợt ùa trên tóc rối
Xuân lại về áo trắng vờn bay.


Con phố cũ bạn bè ơi lạc nẻo
Tết xa nhà lận đận lo toan
Từng tia chớp xẹt ngang vầng trán héo
Ta nhíu mày mong quên hết thời gian.


Nhành mai nở thoáng giao mùa rực nắng
Em mang đi thơ dại của ta rồi
Sông thì vẫn muôn đời trôi chậm
Soi nghìn đêm vời vợi bóng sao rơi.


Ừ mới đó giờ đây thêm tuổi
Cánh hạc gầy xao xác trời xưa
Cung đàn vọng có nguôi khuây niềm nhớ
Mượn thơ tình làm nhịp võng đong đưa...


N.T


 

* ĐẶNG MỸ DUYÊN ( Tây Ninh )

THÁNG GIÊNG CỦA ANH


Tháng Giêng của anh

Là những ngày nhìn mặt người hội núi

Những gương mặt hân hoan tươi mới

Những chiếc lá nõn nòn xanh


Tháng Giêng của anh

Là những quả trứng cá hồng thơm bé nhỏ

Tràn đầy tay em

Tràn đầy niềm vui con trẻ

Muốn cắn vào má em thơm mùi trứng cá

Em ơi là em!


Tháng Giêng của anh

Là những chiều dạo quanh phố nhỏ

Ngắm em nói cười rủ rỉ

Mắt môi chưa biết phấn son...


Tháng Giêng của anh

Xao xác mùi lá xoài non

Em dậm chân ngờ nghệch

Sao anh bỏ đi biền biệt ?

Một mình em ngồi bứt nát những Tháng Giêng...


Hơn hai mươi tháng Giêng xa

Người xưa vẫn cứ như là mới quen...


Đ.M.D



* BÙI THỊ THƯƠNG
( ĐH Quy Nhơn)

Bóng nắng


Bóng nắng chợt đến bóng nắng chợt đi

Bóng nắng vỡ tan long lanh cành lá.

Xuân khúc khích cười...

Núp sau những chồi non


Bóng nắng vờ lẫn trốn

Nheo mắt nhìn mùa qua

Màu nắng

Ửng hồng!


Hoa chúm chím giao thừa

Tinh nghịch trêu đùa

Bóng nắng còn ngây dại

Ngỡ ngàng tuổi mới

Buông thõng mắt xuân xanh


B.T.T


More...

Cuộc thi viết tùy bút trên TTO

By Gia đình Áo trắng

 

Cuộc thi viết tùy bút

"Xuân hoài hương"


Với chủ đề "Xuân hoài hương" cuộc thi tùy bút xuân 2011 mong trở thành một nhịp cầu để bạn đọc gửi nỗi nhớ về cái tết quê nhà đặc biệt để những bạn đọc vì nhiều lý do tết này không thể sum họp với gia đình có cơ hội bày tỏ những cảm xúc gửi những yêu thương đến với người thân bạn bè.


Cuộc thi sẽ diễn ra trên chuyên trang tuoitre.vn/Thiviet/Xuan-hoai-huong-2011. Mỗi bạn đọc được quyền tham gia nhiều bài viết mỗi bài không quá 800 chữ chưa từng được đăng tải ở bất cứ đâu. Bài dự thi gửi về tto@tuoitre.com.vn tiêu đề ghi "Tùy bút Xuân hoài hương".


Thời gian nhận bài dự thi: từ nay đến hết ngày 7-2-2011 (mồng 5 Tết Tân Mão). Tổng giá trị giải thưởng của cuộc thi là 33 triệu đồng.


Cuộc thi nằm trong khuôn khổ chương trình Online cùng Tết Việt năm thứ 8 do
Tuổi Trẻ Online tổ chức với sự tài trợ của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank). Xem thêm thông tin trên tuoitre.vn.


TTO

More...

Cuộc thi THƠ của CLB "Sáng tác trẻ"

By Gia đình Áo trắng

 

CUỘC THI THƠ - CLB SÁNG TÁC TRẺ BÌNH ĐỊNH 2011.
------o0o------



I/ Đề tài:

Tất cả các đề tài khuyến khích viết về quê hương con người Bình Định.

II/ Thể lệ cuộc thi:

- Mỗi bạn có thể gửi 1 hay nhiều bài dự thi.
- Bài dự thi chưa đăng báo in báo mạng hay in sách.
- Cuộc thi khuyến khích những cách viết mới sáng tạo.
- Tất cả thành viên trang http://binhdinhonline.org/ những người đang sinh sống học tập và làm việc tại Bình Định tất cả người Bình Định trên mọi miền Tổ quốc cũng như đang ở nước ngoài.
- Người gửi bài dự thi có độ tuổi không quá 25.

II/ Mục đích:

- Tạo cầu nối giữa các cây viết với CLB Sáng tác trẻ Bình Định.
- Khuyến khích động viên... các bạn trẻ đam mê tìm hiểu sáng tác thơ.
- Các tác phẩm đoạt giải sẽ được in thành sách.

III/ Thời gian và địa chỉ nhận tác phẩm dự thi.

- Bắt đầu nhận các tác phẩm dự thi từ ngày 01/01/2011 đến hết ngày 30/06/2011.
- Thời gian công bố và trao giải vào tháng 07/2011.
- Tác phẩm dự thi các bạn gửi trực tiếp trên diễn đàn http://binhdinhonline.org/ trong mục "thơ văn sáng tác"(từ tất cả các nơi gửi về) hoặc qua địa chỉ Email: conduong_linhtruong@yahoo.com crystal_b389@yahoo.com thuannguyen312@yahoo.com.vn boylangtu_qn26@yahoo.com
- Các bạn gửi thư tay về địa chỉ: Nguyễn Thị Phương Thúy - 99/9 Hai Bà Trưng - TP.Quy Nhơn - Bình Định.
- Ngoài phong bì và trên đầu Email ghi rõ: "Cuộc thi thơ CLB Sáng tác trẻ Bình Định 2011"
- Ban thư ký:

  • Quy Nhơn: Nguyễn Thị Phương Thúy.
  • TP.HCM: Lê Văn Linh Nguyễn Thuận & Lê Văn Quỳnh.
- Dưới mỗi bài viết các bạn điền đầy đủ các thông tin sau:
Họ và tên:
Ngày tháng năm sinh:
Địa chỉ liên lạc:
Chỗ ở hiện tại:
SĐT(nếu có):
Số CMNN:
Bút Danh(nếu có):
Nick YH và Email:


IV/ Cơ cấu giải thưởng:

1 giải nhất: 1.000.000đ.
2 giải nhì mỗi giải 700.000đ.
3 giải ba: mỗi giải 500.000đ.
5 giải khuyến khích: mỗi giải 300.000đ.

V/ Ban giám khảo:

- Ban sơ khảo: Ban cố vấn CLB Sáng tác trẻ Bình Định cùng nhà thơ Nguyễn Thanh Xuân nhà thơ Đặng Thiên Sơn nhà thơ Triều La Vỹ.
  • Ban sơ khảo có nhiệm vụ đánh giá các bài viết dự thi để tuyển đăng trên Tạp chí văn học trẻ Bình Định(http://binhdinhonline.org/).

- Ban chung khảo: Hai nhà thơ Nguyễn Thanh Xuân Đặng Thiên Sơn và một số nhà thơ nhà văn tại Bình Định.
  • Ban chung khảo có nhiệm vụ lựa chọn các bài viết đã qua sơ khảo để trao giải khi kết thúc cuộc thi.

VI/ Ban liên lạc.

Mọi thắc mắc các bạn có thể liên lạc theo các địa chỉ sau:
- Quy Nhơn: Nguyễn Thị Phương Thúy.
SĐT:01224421353 hoặc 0988200224
Nick YM: crystal_b389
Email: crystal_b38@yahoo.com
- TP.HCM & các nơi khác: Lê Văn Linh Nguyễn Thuận & Lê Văn Quỳnh.
Lê Văn Linh:
SĐT: 01698035510.
Nick YM: conduong_linhtruong
Email: conduong_linhtruonng@yahoo.com
Nguyễn Thuận:
SĐT:01688180087.
Nick YM: tuyetden312
Email: thuannguyen312@yahoo.com.vn

Lê Văn Quỳnh:
SĐT:0937467258
Nick YM:boylangtu_qn26
Email: boylangtu_qn26@yahoo.com

More...

"Xiếc" chữ và đời thực

By Gia đình Áo trắng


 

"Xiếc" chữ và đời thực
* NGUYỄN QUANG THÂN

          Đời sống luôn tồn tại một cách độc lập. Cái bát hay cái chén hoặc tiếng Anh tiếng Pháp gọi nó là gì gì đi nữa thì nó cũng vẫn thế không ảnh hưởng gì đến người dùng nó để đựng cơm đựng nước. Sự thật ấy là hiển nhiên.
          Tuy vậy vẫn do những lý do khác nhau người ta luôn muốn thay đổi bản chất của sự vật bằng những trò xiếc chữ. Hãy nghiền ngẫm loại văn báo cáo phổ biến nhất. Chúng được soạn thảo để thay mặt tổ chức (công ty cơ quan hay đoàn thể) công bố thông tin ra ngoài xã hội. Thay vì "gọi con bò là con bò" người ta gọi nó là "con sư tử có sừng". Thay vì nói thẳng năm này tháng này công ty thua lỗ nợ nần làm ăn không tương xứng với hy vọng hay kế hoạch người ta viết "đạt thành quả hạn chế". Thay vì nói thẳng trong cơ quan có chuyện tranh giành đấu đá các phe phái vu cáo nhau gây rối cho tổ chức người ta viết "đoàn kết nội bộ chưa thật chặt chẽ"... Vì thế các bản báo cáo luôn tràn ngập những từ và cụm từ "lấp lánh lá ngụy trang" như: đồng thời bên cạnh đó song song tuy nhiên mặc dù không ngừng v.v...
Bản thân những từ này không có màu sắc nhưng từ ngòi bút của những người làm xiếc chữ chúng trở thành đồng lõa để che đậy dối trá hay lừa mị phổ biến nhất là để lấy "mồm miệng thay tay chân". Tôi đã từng đọc một báo cáo cấp xã: "không ngừng tăng cường đàn heo nái đồng thời phát triển heo thịt và củng cố một bước đàn gia súc có sừng". Hỏi ông chủ tịch (người đọc báo cáo trước HĐND) rằng xã mình hiện có bao nhiêu heo nái bao nhiêu heo thịt ông mù tịt. Hỏi ông lấy vốn đâu có biện pháp gì để "củng cố một bước" đàn gia súc có sừng một bước là bao nhiêu con ông bảo sẽ tính sau. Chắc chắn đọc báo cáo cho các vị hội đồng yên tâm rồi bỏ xó.
           Từ những năm sau đổi mới cho đến tận hôm nay do bung ra từ dây trói bao cấp bỗng dưng bùng nổ những khái niệm xiếc chữ. Dẫn chứng trường hợp "trường công lập tự chủ tài chính" hay "xã hội hóa" v.v... Trường công xưa nay là của Nhà nước. Loại hình nhà trường này nước nào cũng duy trì và tùy theo khả năng ngân sách mà phát triển để đảm bảo phúc lợi của dân và vai trò khuôn mẫu giáo dục quốc gia. Ngoài ra là trường tư (tư thục) do tư nhân đầu tư khi trường công không thể thỏa mãn chỗ học. Nhà nước có thể cấp những khoản tài trợ cho vay hay không hoàn lại. "Trường công tự chủ tài chính" có lẽ là trường hợp này. Tại sao không gọi thẳng đó là "trường tư thục"? Nhiều trường công học phí lên tới cả triệu đồng thì sao còn gọi là trường công? Còn "xã hội hóa"? Thực chất đó là tư nhân nguồn tiền ngoài ngân sách ra chỉ còn là tư nhân dù là công ty TNHH cũng là tư nhân từ "xã hội" cũng như "toàn dân" đưa lại sự mơ hồ chủ thể có chăng nó chỉ nói lên rằng ta vẫn còn sự kiêng kỵ không cần thiết nào đó.
           Làm xiếc chữ chính là một biểu hiện xơ cứng tư duy khi người ta thiếu cảm hứng thiếu sáng tạo hay lười suy nghĩ. Chữ nghĩa bị sáo mòn vì không có nội dung như đồng tiền không có vàng bảo đảm. Vấn đề không phải là chỉnh đốn sửa chữa cách viết báo cáo. Đó chỉ là hình thức. Cái chính là cần phải trung thực trong mọi trường hợp công tư thắng thua tốt xấu rõ ràng đẩy lùi nạn giả dối đang ăn mòn đạo đức xã hội. Bản thân ngôn ngữ không có tội gì nhưng ngôn ngữ là những thứ dễ bị lợi dụng nhất vì lời nói không mất tiền mua vì lời nói có thể giúp người ta che đậy hay ngụy trang cái trống rỗng cái lừa mị hay hiểm độc bên trong. Nếu làm trò xiếc với câu chữ lâu năm thì sẽ đến lúc chính bản thân những "diễn viên" xiếc ấy cũng không biết mình là ai nữa. Đời thực có sức mạnh tự bản thân nó như con tàu lừ lừ chạy trên đường ray luôn ngoài ý muốn xiên xẹo của những người thích làm xiếc chữ.

( Nguồn: Báo Phụ Nữ TPHCM )

More...

Sự bao cấp trong thơ

By Gia đình Áo trắng


 

* Anh Ngọc

Sự bao cấp trong thơ


Bài viết này chỉ đề cập đến tình hình thơ trong khu vực văn học Cách mạng từ sau 1945 đến ngày đất nước bước vào Đổi mới. Trong giai đoạn ấy nền thơ ta đã có những thành tựu to lớn. Đã có nhiều bài báo trang sách viết về điều này. Tuy nhiên nền thơ ấy cũng đã bộc lộ những khiếm khuyết. Nếu như mỗi bài viết không nhất thiết là một bản báo cáo có đầy đủ các mặt của một hiện tượng mà có thể chỉ đề cập đến một mặt trong số đó thôi - thì bài viết này tôi chỉ xin được dành cho một vấn đề: Những mặt còn yếu kém của nền thơ ta trong hơn bốn mươi năm qua. Hy vọng các bạn đọc thân mến sẽ thông cảm với cách đặt vấn đề như vậy.

Anh Việt Phương đã có lần tâm sự rất chân thành rằng anh luôn băn khoăn không hiểu cái thứ bao nhiêu năm nay mình vẫn viết có phải là thơ hay không. Sách anh in ra được gọi là tập thơ anh cũng được gọi là nhà thơ - nhưng băn khoăn ấy của anh là có thật và có lý. Trường hợp Việt Phương là tiêu biểu nhưng không hề là cá biệt. Suy rộng ra băn khoăn ấy đã ám ảnh nhiều người làm thơ chúng ta trong đó có cả người viết những dòng này. Bởi vì cũng như anh Phương khi đối chiếu thơ mình với thơ của tiền nhân và thơ thế giới tôi cảm thấy rất rõ một sự khác biệt nhãn tiền. Đây không phải là việc hay hay là dở - cái khác biệt này nằm ở bản chất của chính thơ.

Thế hệ chúng tôi lớn lên cùng với cách mạng và một ý thức đã hình thành và mọc rễ ở trong chúng tôi rằng: Lịch sử đã chia làm đôi một cách quyết liệt - thành hai nửa: Trước và sau Cách mạng. Mặc dù chúng ta luôn nói đến sự kế thừa nhưng quả thật lắm khi bằng cả lời nói và việc làm - chúng ta tự đặt mình cao hơn tất cả. Chỉ có ta mới là chân lý mới là đỉnh cao ta là một lớp người hoàn toàn khác một thời đại hoàn toàn khác. Ta có quyền ngắm nhìn quá khứ và cả thiên hạ nữa bằng con mắt phán xét và thẩm định mọi giá trị. Thế rồi cùng với thời gian ta như một đứa trẻ càng lớn lên càng rơi rụng bớt những ảo tưởng về mình. Sau những trả giá sòng phẳng cho những ảo tưởng ấy ta đã dần dà trưởng thành để kịp hiểu ra rằng: Ta cũng chỉ là những con người bình thường như mọi người thôi rằng mọi sự vẫn cứ diễn ra theo đúng quy luật của muôn đời không ai có thể đứng ngoài chúng. Sự thật là hơn bốn mươi năm qua ta đã sống trong một trạng thái bất bình thường. Thời gian ẩy đối với một đời người qủa là dài để cái bất bình thường trở thành bình thường đến nỗi bây giờ đây có nhiều người vẫn chưa ra khỏi giấc mơ ban đầu đó. Nhưng với lịch sử thì bốn mươi năm đó chỉ là một ngoại lệ nhỏ bé. Lịch sử vẫn cuồn cuộn trôi đi và cuốn theo những ngoại lệ vào dòng chảy của mình. Công cuộc hoà nhập trở lại tuy thế không hề dễ dàng nó đòi hỏi chúng ta biết bao dũng cảm chân thành và sáng suốt - một khả năng tự thanh lọc rất cao.

Với những người làm thơ tình hình diễn ra cũng đúng như vậy.

 Ít lâu nay mỗi khi hình dung về những người làm thơ đích thực - những tiền nhân của chúng ta và các nhà thơ lớn của thế giới - tôi thường vẽ ra cái cảnh họ ngồi trước trang giấy trắng mà trong đầu không hề bị ràng buộc vì một cái gì trước mắt không có một khuôn mẫu nào một mệnh lệnh nào hoặc như ta vẫn  thường nói một "đơn đặt hàng" nào. Họ chỉ lắng nghe chính mình chỉ khao khát diễn đạt những gì mình khao khát mình tâm đắc. Ngay cả về hình thức họ cũng chỉ đào sâu vào chính họ - nói như Viên Mai: lúc thường một phút cũng không được quên người xưa lúc làm thơ một phút cũng không được nhớ người xưa. Công việc sáng tạo của họ là của riêng một người họ chỉ chịu trách nhiệm trước bản thân mình mà thôi. Họ đạt đến tự do.

Còn với chúng ta thì sao? Mỗi khi cầm lấy bút là trong đầu chúng ta đã có sẵn hầu như tất cả những câu hỏi và gợi ý tựa như những thí sinh bốc thăm được câu hỏi thì phải biết cần huy động những kiến thức gì trong kho tàng kiến thức đã được các thầy và sách vở cung cấp sẵn. Chúng ta có trước mắt nào là: Đề tài chủ đề cách giải quyết cho đến những kết luận cần thiết. Thậm chí cả về hình thức chúng ta cũng đã có những định hướng cụ thể: Phải đại chúng và dân tộc như thế nào và phục vụ công nông binh ra sao v.v. . . .  

Nói cho công bằng việc đó có cái lợi và cũng có cái bất lợi. Lợi là nó đơn giản hoá việc làm thơ đi nó đẩy những thứ như tài năng thiên bẩm khả năng rung động bản sắc cá nhân và nhất là tầm suy nghĩ sâu sắc... vốn là những phẩm chất đặc trưng của người nghệ sĩ xuống hàng thứ yếu và giúp cho nhiều cây bút gặt hái được nhiều mà không cần mấy đến thực tài. Có lẽ vì thế mà từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay chúng ta mới có nhiều "nhà thơ" hơn bao giờ hết. Chỉ cần có hai ba chục bài thơ loàng xoàng in thành một tập là đã được gọi là "nhà thơ" rồi. Còn cái hại thì có lẽ đến hôm nay ít ai không nhìn thấy: Nó hại cho thơ đích thực hại cho những nhà thơ đích thực.

Sự bao cấp về nhiều phương diện đã đẩy văn học nói riêng và thơ nói chung đến ba con bệnh khó tránh đó là: tính công thức tính sơ lược và tính giả tạo.  

Có người nói sở dĩ có hiện tượng đó là vì các nhà văn nhà thơ chúng ta là những người làm công ăn lương. Quả thật trong xã hội chúng ta hầu hết mọi người đều là người làm công ăn lương từ cán bộ công nhân viên chức đến thợ thủ công và cả nông dân cũng là những người ăn lương trên chính sản phẩm của mình. "Ăn cơm  chúa múa tối ngày" cái tâm lý ấy tất nhiên phải có rồi kể cả ở những người ăn lương ...để làm thơ lẫn những người ăn lương để làm việc khác và kết hợp làm thơ. Tuy nhiên đấy chỉ là biểu hiện nhìn thấy của một bản chất sâu xa hơn. Bởi vì ngẫm ra hầu hết các thi nhân kim cổ đều có "ăn cơm chúa" cả nhưng ngoài phần thơ trả nợ áo cơm phần riêng của họ còn lại cũng còn nhiều lắm.

 Đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy các nhà thơ của ta có đời sống riêng không hơn gì nếu không muốn nói là nhiều khi còn thua kém đời sống của những người nghèo khổ trong xã hội. Ấy vậy mà họ vẫn mắc bệnh "quan liêu" và thơ họ vẫn mang nặng chất của một thứ văn chương "tháp ngà". Một khi tư tưởng đã có sẵn thì cảm xúc cũng phải khuôn theo đó và công việc làm thơ chỉ còn là tìm tòi cách để ca sao cho thật véo von những điều
ai cũng đã biết.


 

Câu thơ nửa đùa nửa thật của Xuân Diệu:

Em có tài nấu nướng

Anh có tài ngợi khen

Dẫn ra ở đây cũng khá thích hợp cho ta suy nghĩ: Em có tài thì anh  khen là phải quá đi rồi thậm chí nếu em không có tài mà vì anh trót yêu thì anh vẫn cứ khen mà chẳng ai nỡ trách nhưng đến cái đoạn tình yêu không còn món ăn thì khó xơi mà vẫn cứ khen thì chỉ có thể vì sợ vì vụ lợi hoặc vì... thói quen mà thôi. Và với tinh thần "duy ý chí" như vậy cả công việc đi thực tế mà hơn ai hết chúng ta rất khuyến khích cũng không còn mang ý nghĩ thực sự của nó. Cũng như trong văn xuôi và báo chí chúng ta không tìm cách phản ánh cuộc sống như nó vốn có mà đi tìm những chất liệu khả dĩ có thể minh hoạ cho những tư tưởng định sẵn từ ở nhà. Từ đó mà tạo ra những hình mẫu nhằm mục đích giáo dục và làm gương cho mọi người. Mà một khi đã là hình mẫu thì dù có đủ cả mọi bộ phận nhưng vẫn chỉ là những cơ thể không có sức sống. Văn và thơ đã trở thành những bài học luân lý mang đầy tính ước lệ mới (có nhiều dẫn chứng cho nhận định này - có thể thấy tiêu biểu trong những tác phẩm viết về cuộc đời các anh hùng kể cả "Trường ca Nguyễn Văn Trỗi" của nhà thơ Lê Anh Xuân tài năng cũng không thoát ra ngoài tình trạng này).

Ở đây có lý do bắt nguồn từ một nguyên lý có tính nền tảng - chúng ta coi văn học là một vũ khí để phục vụ chính trị và cách mạng. Sự thật văn học cách mạng đã làm được khá nhiều trong sự nghiệp giải phóng nhân dân giải phóng con người dưới khẩu hiệu đó nhưng nếu quan niệm này bị lạm dụng bị sử dụng một cách thô thiển và cứng nhắc như chúng ta vẫn thấy thì thực chất là đã  hạ thấp văn học xuống rất nhiều. Cũng như vậy chỉ một bước thôi nhiều lúc có người lại coi văn học như một món trang sức một thứ đồ chơi. Cả hai quan niệm ấy - như vũ khí hoặc như đồ chơi - tưởng như rất xa mà lại rất gần nhau vì bắt nguồn từ một bản chất và hiển nhiên là cả hai đều bất cập. Tôi nghĩ rằng thơ nói riêng và văn học nói chung có khi là cả hai mà có khi không là cái gì cả - bởi vì có khi nhà thơ viết cho người đọc vì người đọc mà cũng không ít khi họ viết chỉ vì chính mình mà thôi.

Như vậy là thơ đã bị bao cấp từ nhiều phía và điều tất nhiên dẫn đến là đến lượt mình thơ lại bao cấp lại với độc giả. Thơ không còn là món ăn tự nhiên với mùi vị của chính thiên nhiên mà là những thức ăn sản xuất từ phòng điều chế theo những công thức dinh dưỡng cần thiết hoặc giống với những thứ thuốc viên nhiều hơn.

 Tuy nhiên có gò bó thì có chống gò bó: Trong suốt cả quá trình ấy đây đó ta vẫn bắt gặp những bài những dòng thơ thật sự những cảm xúc những suy tư và cả những tìm tòi hình thức vượt ra ngoài khuôn khổ chung. Những nhà thơ có bản sắc mạnh đã tìm mọi cách đan cài phần riêng của mình vào tác phẩm (cách đây gần một phần tư thế  kỷ khi Lưu Quang Vũ mới vào nghề tôi có hỏi anh về dự tính công việc Vũ đáp: Cố gắng đưa được cái "mình" vào càng nhiều càng tốt - như vậy là anh ý thức về điều này rất sớm và thực tế Vũ đã phần nào làm được theo ý mình).

Rèn luyện lâu dài và thường xuyên trong công việc "viết" và "lách"  nên dần dà nhiều người trở nên lọc lõi về khoản này kỹ thuật rất tinh vi thủ đoạn rất cao cường nếu đem thi thố với thế giới chắc không chịu thua kém. Thậm chí có người còn nói vui: Chính nhờ như thế mà văn chương mới thêm kín đáo hàm súc và tinh tế chứ nếu cứ mặc sức muốn nói gì thì nói e lại mất duyên đi!

 Trước hết với lớp thi sĩ đàn anh từ tiền chiến đến với Cách mạng. Có một số trong các ông hầu như đã chấm dứt ngay dòng thơ hoặc nếu có viết thì cũng hết sức mờ nhạt so với thành tựu trước Cách mạng: tiêu biểu là Nguyễn Bính Hồ Dzếnh Đoàn Văn Cừ. Có thể kể cả Thâm Tâm. Họ làm những việc khác không thua kém bất cứ ai nhưng thơ thì đã tự thua chính mình. Cắt nghĩa điều này có nhiều cách nhưng tôi lưu ý nhất đến câu trả lời của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trên tờ "Cửa Việt" ra gần đây khi được hỏi tại sao so với trước năm 1975 giờ đây ông viết ít đi và yếu đi Trịnh Công Sơn đã nói: "Bỗng dưng tôi mất hẳn lòng say mê được trình bày những điều mới lạ trong sáng tạo. Chẳng hiểu bắt nguồn từ đâu. Chỉ cảm thấy mơ hồ một sự trục trặc một cái gì đó đã lệch đi trong đời sống tinh thần và tình cảm của mình. Nói chung hình như tôi không còn bị cám dỗ bởi những giấc mơ nữa".

Phần đông trong số họ và là những nhà thơ tiêu biểu sau một thời gian trăn trở đã trở lại làm thơ. Họ viết khoẻ số đầu sách nhiều gấp mấy thời trước và còn làm thêm nhiều việc khác nữa. Không thể nói phần đóng góp sau Cách mạng của các nhà thơ này là không to lớn nhưng sau hơn bốn mươi năm biến động giờ đây nhìn lại thì phần  thơ giàu hương sắc nhất của các tác giả này vẫn là phần thơ tiền chiến. Hầu hết các tác giả từ Xuân Diệu Huy Cận Lưu Trọng Lư.... đều nằm trong trường hợp này. Tế Hanh bước vào  cách mạng khi còn rất trẻ và với bản sắc của một người sống nhiều bằng cảm tính nên có lẽ là nhà thơ giữ được nhiều cái "mình" hơn cả . Chế Lan Viên người rất giàu lý tính có thể nói đã khai sinh ra một đời thơ mới nhưng với tất cả sức suy nghĩ sâu sắc trí thông minh tuyệt vời và một kỹ xảo thơ điêu luyện do tu dưỡng và học hỏi từ nhiều nền thơ thế giới thơ Chế Lan Viên vẫn khiến người ta phục vì tài nhiều hơn là yêu vì tình làm cho người ta sảng khoái khi nghĩ trong đầu hơn là  xúc động ghi vào trong tim. Và đó phải chăng cũng là một điểm yếu cốt tử?  

Tiêu biểu nhất là trường hợp Xuân Diệu. Trước cách mạng thơ Xuân Diệu là tiếng lòng da diết của một tâm hồn si mê cuộc sống lại được một tài thơ mạnh mẽ cùng với kỹ thuật học được của thơ Pháp nên đã gây xúc động to lớn trong người đọc nhất là tuổi trẻ. Sau Cách mạng ông hăng hái đi vào cuộc sống mới. Tài thơ của ông vẫn còn nguyên đó lại được bổ sung bằng bao công lao tìm tòi học hỏi không mệt mỏi. Cũng không thể nói tình yêu cuộc sống của ông giảm sút. Ấy vậy mà thơ ông xin anh linh ông tha thứ cho vẫn mất đi quá nhiều chất đắm say đến liều lĩnh chất huyền diệu và bí ẩn khi đi vào cõi u uẩn của lòng người cái buồn phảng phất vừa ngọt ngào vừa cay đắng. . . là những tố chất làm nên vẻ đẹp riêng của thơ Xuân Diệu trước kia. Thơ ông giống như một tấm vải nhung vẫn rất bền chắc màu sắc tươi đẹp nhưng không còn nữa cái lớp tuyết mơ hồ - làm nên sự hấp dẫn đặc trưng của chất liệu này. Tôi kính trọng những dòng thơ ông viết về đấu tranh thống nhất Bắc Nam về những mái ngói mới lợp về xác máy bay B52 v.v. . . nhưng hình như đấy lại là một Xuân Diệu khác. Giá như có thể thống nhất trở lại hai con người ấy ở trong một Xuân Diệu thì hay quá. Nhưng sự thể đã  không thể như vậy. Trong khi đó ở một chân trời khác Pablô Nêruđa chẳng hạn khi ông làm thơ kêu gọi tiêu diệt Nichxơn hay ông viết về đỉnh Michchu Pichchu đơn độc và hư vô thì chỉ là chảy ra từ một nguồn thơ mà thôi. Ngay trong thơ tình yêu sở trường của mình Xuân Diệu cũng đã nghèo đi rất nhiều. Ông đã trở thành người đứng từ ngoài mà ngắm nghía phân thích mổ xẻ tình yêu nhiều hơn là làm người trong cuộc để kêu lên những tiếng buồn vui đến xé lòng. Ông tỉnh táo và sáng rõ ông hợp lý và đúng đắn hơn ngày xưa bao nhiêu thì cũng khô cứng và nhạt nhẽo đi bấy nhiêu. Bài thơ hay nhất của ông về tình yêu là bài "Biển" cũng không thoát được khỏi tình trạng đó. So với nhiều bài thơ tình cùng thời đây là một trong những bài hay nhất và cũng hoàn chỉnh nhất. Nó đầy đủ hầu như tất cả những biểu hiện của tình yêu mà nhân loại đã đúc rút được. Nó là một "bữa tiệc" cho các thầy giáo dạy văn. Nhưng chính vì sự đầy đủ đó nó giống một mô hình về tình yếu hơn là một cơ thể sống của tình yêu. Nó giống như một lời gà hộ cho một người đi tỏ tình hơn là lời một người đang yêu say đắm.

Bước vào giai đoạn đầu chống Pháp trong bối cảnh hùng tráng và có cả bi thảm nữa với cái không khí tưng bừng của những ngày trăng mật của Cách mạng thơ ta đã có những bài thật hay với những tên tuổi mới: Quang Dũng Chính Hữu Hoàng Cầm; Hữu Loan - lúc này cảm hứng thơ của các ông vẫn còn nhiều chất tự phát chưa bị gò bó nhiều vì hệ thống quan niệm mới về văn nghệ mà có người cho là nhập cảng từ Trung Quốc. Rất tiếc là thời gian này quá ngắn ngủi nên thành tựu chưa nhiều.

Như trên đã nói thế hệ chúng tôi lớn lên như những đứa trẻ con đẻ của chế độ mới được bố mẹ chăm bẵm lo cho đủ mọi thứ từ vật chất đến tinh thần. Những ông bố bà mẹ đầy tự hào về gia thế đã ra sức nuôi dưỡng và giáo dục lũ trẻ một cách thật nền nếp nghiêm ngặt. Chúng tôi luôn luôn được xem là trẻ ngoài bốn mươi tuổi vẫn là nhà thơ trẻ in mấy tập thơ rồi vẫn cứ là "mầm non" nhiều triển vọng... Người ta xoa đầu chúng tôi và chúng tôi cũng thích như vậy.

Tôi có thể dẫn ra đây rất nhiều ví dụ trong thơ của những người cũng thế hệ . Nhưng để tránh động chạm đến người khác và vì ít nhiều tôi cũng là một người sáng tác nên xin phép được dẫn chính mình. Là một người cũng đã luôn cố gắng tìm sự độc lập trong suy nghĩ nhưng một phần do đã thấm vào tận máu các giáo lý từ nhà trường và xã hội và một phần không đủ bản lĩnh để sống và viết hoàn toàn theo ý mình nên tôi cảm thấy những gì mình đã viết ra trước đây thực sự khô cứng và thiếu sức sống. Trong một đoạn viết trong trường ca sau này tôi đã nói về ý nghĩ ấy:

Tôi đi qua tuổi học trò

Nói năng khuôn phép câu thơ sáo mòn

Cười mình quen thói đại ngôn

Thương vay khóc mướn véo von một thời

Câu thơ dẫu viết xong rồi

Vẫn như thấy thiếu một lời ở trong

Một lời thốt tự đáy long

Một lời vẽ được chân dung của mình

Và tôi đã quyết định đoạn tuyệt với nó:

Cái véo von mà tôi đã chối từ

Không thương tiếc không bao giờ ngoảnh lại

Cái "khuôn phép" cái "sáo mòn" cái "thương vay khóc mướn" và "véo von"  mà tôi nói ở đây là đặc điểm cửa thứ thơ dở mà thực ra ở thời nào cũng có nhưng ở thời chúng ta nó khác ở chỗ đã trở thành phổ cập và được bảo vệ bằng lý luận.

Tôi viết ít in ít hoàn toàn không phải là người có thể tiêu biểu cho thế hệ mình nhưng tuy thế những thiếu sót và yếu kém những hạn chế của chủ quan và nhất là của khách quan thời đại ở tôi vẫn mang tính điển hình rõ rệt.

Mổ xẻ hiển nhiên không thể thích thú như được mơn trớn nhất là lại tự mổ xẻ chính mình . Tuy nhiên nếu thành thực với chính mình thì chúng ta không thể làm khác. Bởi vì nếu chẳng may có đánh mất quá khứ thì đó là điều đáng buồn nhưng quan trọng hơn rất nhiều là không thể để mất tương lai vì mất tương lai là mất tất cả. 

Có thể những ý kiến trên đây của tôi sẽ bị coi là bi quan và quá nghiêm khắc. Tuy nhiên đó thật sự là những suy nghĩ chân thành của bản thân tôi. Và với những gì được phát biểu một cách chân thành thì chỉ có thể đúng hoặc sai chứ không thể có ác ý.

Ngày 29-3-1991

(Tạp chí Văn Học 5- 1991)

More...

Cuộc thi truyện ngắn mini trên AT

By Gia đình Áo trắng

 

Mời bạn tham dự cuộc thi truyện ngắn mini:

"Nơi tôi đang sống"


* Nội dung:

Viết về con người sự việc nơi bạn đang sống.

* Thể lệ:

- Mỗi bạn có thể dự thi từ một đến ba truyện.

- Mỗi truyện dài không quá 500 từ.

- Truyện dự thi chưa đăng báo in báo mạng hay in sách.

- Cuộc thi khuyến khích những cách viết mới.

- Tất cả bạn đọc Áo Trắng trong và ngoài nước đều có thể tham dự.

- Truyện dự thi ngoài bút danh cần ghi rõ tên thật địa chỉ điện thoại email để ban tổ chức tiện liên lạc.

- Truyện dự thi viết sạch sẽ trên một mặt giấy hoặc đánh máy vi tính.

* Gửi về:

Tập san Áo Trắng (60A Hoàng Văn Thụ P.9 Q.Phú Nhuận TP.HCM).

Email: tapsanaotrang@tuoitre.com.vn

Ngoài bì thư hoặc trên đầu email xin ghi rõ "Truyện mini dự thi".

- Truyện được chọn đăng trên báo Áo Trắng và sau đó chọn in thành sách đều có nhuận bút.

- Thời gian nhận truyện dự thi từ 15 -10- 2010 đến 30 - 4 -2011.

- Kết quả công bố trên Áo Trắng số ra ngày 15 -5-2011 - Kỷ niệm Áo Trắng tròn 4 tuổi.

* Giải thưởng:

1 giải nhất: 5.000.000 đ

1 giải nhì : 3.000.000 đ

1 giải ba: 2.000.000 đ

5 giải khuyến khích: 1.000.000 đ/giải

* Ban chung khảo:

- Nhà văn Đoàn Thạch Biền

- Nhà văn Phạm Thị Ngọc Liên

- Nhà văn Nguyễn Đông Thức.

More...